Sách - Ấn phẩm
Xu hướng giáo dục cho trẻ có nhu cầu đặc biệt của Châu Âu - Kinh nghiệm và thách thức
03/10/2016 09:23
Hoàng Thị Nho
Phó trưởng khoa GDĐB – Đại học Sp Hà Nội

Tóm tắt: Bài viết này đề cập đến tình hình và xu hướng của các chính sách và thông lệ châu Âu về lĩnh vực giáo dục đặc biệt (GDĐB); Các văn bản quốc tế mà các nước châu Âu kí cam kết và  dựa vào các hướng dẫn để triển khai thực hiện; những xu hướng tiếp cận về  giáo dụ hoà nhập; Những kết quả đạt được và những thách thức chung hiện nay ở các nước châu Âu về giáo dục hòa nhập (GDHN); Các vấn đề về trường chuyên biệt liên quan đến hòa nhập. Từ những thông tin này, bài viết đưa ra một số kết quả về GDHN ở Việt Nam và những bài học kinh nghiệm trong vận dụng thực tiễn ở Việt Nam.  

Đặt vấn đề

Các nước chấu Âu đã thực hiện và triển khai giáo dục cho trẻ có nhu cầu đặc biệt dựa trên những văn bản và các cam kết quốc tế về GDHN và Quyền của Người khuyết tật. Các văn bản chính sách quan trọng nhất và gần đây là Công ước Liên Hiệp Quốc về Quyền của Người khuyết tật (2006). Trong Công ước, Điều 24 là rất quan trọng để hướng dẫn thực hiện chính sách và thực tiễn giáo dục: Các quốc gia phải đảm bảo một hệ thống giáo dục, bao gồm các cấp  học ...

Hầu hết các nước châu Âu đã ký Công ước (mặc dù nó phải được lưu ý không nhất thiết phải phê chuẩn Công ước hoặc ký kết hoặc phê chuẩn Nghị định).

Nghị quyết Hội đồng Châu Âu năm 2003 về Thúc đẩy hội nhập việc làm và xã hội của người khuyết tật và Nghị quyết Hội đồng, năm 2003, về cơ hội bình đẳng cho học sinh, sinh viên khuyết tật trong giáo dục và đào tạo là hai trong số các báo cáo chính cấp Châu Âu mà hướng dẫn chính sách quốc gia thành viên cho GDĐB.

Quan trọng nhất, tất cả các nước châu Âu đã phê chuẩn Tuyên bố UNESCO Salamanca và Khuôn khổ hành động trong nhu cầu đặc biệt Giáo dục (1994). Tuyên bố này là một tâm điểm nhu cầu đặc biệt công tác giáo dục chính ở châu Âu - nó vẫn là một yếu tố quyết định trong khuôn khổ khái niệm chính sách nhiều nước. Một đưa ra những tuyên bố được sử dụng nhiều lần như một nguyên tắc hướng dẫn trong các cuộc tranh luận chính sách: các trường học phổ thông cần hướng tới là phương tiện hiệu quả nhất để chống lại thái độ kỳ thị, tạo ra cộng đồng cởi mở, xây dựng một xã hội hòa nhập và đạt được giáo dục cho tất cả; Hơn nữa, các trường học cần đảm bảo  một nền giáo dục hiệu quả cho đa số trẻ em và nâng cao hiệu quả và cuối cùng là chi phí hiệu quả của toàn bộ hệ thống giáo dục.

1. GDHN, chính sách và những xu hướng triển khai thực tiễn ở châu Âu

1.1. Khái nệm trẻ khuyết tật và tỷ lệ

Khái niệm và phân loại nhu cầu GDĐB và các khuyết tật khác nhau giữa các nước. Một số quốc gia xác định chỉ có một hoặc hai loại nhu cầu đặc biệt. Những người khác phân loại học sinh có nhu cầu đặc biệt trong hơn 10 loại. Hầu hết các nước phân biệt 6-10 loại nhu cầu đặc biệt. Sự khác biệt giữa các quốc gia có liên quan chặt chẽ với các quy định hành chính, tài chính và thủ tục nhưng không cho thấy sự thay đổi về tỷ lệ và các loại nhu cầu GDĐB giữa các quốc gia này.

Trong hầu hết các quốc gia các khái niệm về nhu cầu GDĐB rất quan trọng. Ngày càng có nhiều người tin rằng cách tiếp cận y tế của khái niệm "khuyết tật" nên được thay thế bằng một phương pháp tiếp cận giáo dục nhiều hơn: tập trung trọng yếu vào ảnh hưởng của tình trạng khuyết tật với giáo dục. Liên quan đến vấn đề  này ở  nhiều quốc gia, sử dụng các đánh giá của học sinh với nhu cầu đặc biệt để thực hiện giáo dục phù hợp đang được phát triển chủ yếu thực hiện thông qua các chương trình giáo dục cá nhân (IEP)

Tỷ lệ học sinh được giáo dục trong môi trường tách biệt (trường lớp chuyên biệt). Tất cả các nước xem xét cùng nhau, khoảng 2% của tất cả các học sinh ở châu Âu được giáo dục trong các trường học chuyên biệt biệt hoặc (toàn thời gian) các lớp học đặc biệt. Một số quốc gia có tỷ lệ  dưới 1% của tất cả các học sinh trong các trường học và các lớp tách biệt, những nước khác lên đến 6%. Đặc biệt là các quốc gia ở tây Bắc châu Âu có số học sinh thường xuyên hơn trong các thiết lập đặc biệt như trái ngược với các nước phía nam châu Âu.

Ở cấp Trung học cơ sở: Báo cáo ở các nước đều cho thấy GD hòa nhập thành công hơn ở cấp tiểu học nhưng đến cấp THCS  còn gặp nhiều vấn đề.  Khoảng cách giữa  học sinh có nhu cầu ĐB và bạn cùng trang lứa tăng lên theo độ tuổi. GV chưa được đào tạo về GDHN  và thái độ của GV có vai trò quan trọng

1.2. Tiếp cận về GDHN và xu hướng thay đổi chức năng của các trường đặc biệt

Có hai cách tiếp cận khác nhau về GDĐB:

- Tiếp cận đa chiều: Các nước này tiếp cận đa chiều với GD ĐB với các dịch vụ đa dạng giữa hai hệ thống hòa nhập và chuyên biệt (Đan Mạch, Pháp, Phần Lan, Anh, CH Sec, Ba Lan, Đức,Hà Lan

- Tiếp cận hai chiều: HS có nhu cầu đặc biệt  thường học ở trường chuyên biệt hoặc lớp đặc biệt.Tuy nhiên vẫn Phát triển hệ thống dịch vụ GD ĐB trong lớp hòa nhập (Bỉ, Thụy Sĩ, Đức,Hà Lan).Các nước: Thụy Điển, Đan Mạch, Ý, Na Uy  phát triển chính sách GDHN rõ ràng hơn và từ rất sớm

Xu hướng phổ biến hiện nay là trường chuyên biệt trở thành các Trung tâm nguồn nhiệm vụ mới của họ là để hỗ trợ cho các trường học chủ đạo, phát triển tài liệu và phương pháp, thu thập thông tin và cung cấp cho các bậc cha mẹ và GV, chăm sóc của các liên lạc cần thiết giữa các cơ sở giáo dục và giáo dục không, và hỗ trợ khi quá trình chuyển đổi từ trường học đến công việc diễn ra. Trong một số trường hợp các nhà GDĐB và các trường đặc biệt sắp xếp giúp đỡ ngắn hạn cho học sinh cá nhân hoặc nhóm nhỏ học sinh.và phát triển mạng lưới các trung tâm trong nước với các nhiệm vụ cụ thể:

- Tập huấn cho GV và các nhà chuyên môn
- Phát triển đồ dùng, tài liệu dạy học và các phương pháp
- Hỗ trợ các trường hòa nhập và cha mẹ
- Hỗ trợ cá nhân trẻ (theo tiết hoặc buổi)

Hỗ trợ hướng nghiệp và tìm việc  Một số nước đã đạt được một số kinh nghiệm với các trung tâm nguồn (Áo, Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển và Phần Lan); những nước khác đang triển khai các hệ thống (Cyprus, Bồ Đào Nha). Ở một số nước trường chuyên biệt có nghĩa vụ hợp tác với các trường học hòa  nhập trong khu vực (Tây Ban Nha), hay các trường đặc biệt cung cấp các dịch vụ khác cho các trường học phổ thông (Bỉ, Hà Lan, Hy Lạp, Anh).

Vai trò của trường chuyên biệt biệt về hòa nhập được liên quan chặt chẽ với hệ thống giáo dục của đất nước. Ở các nước có hầu như không có trường chuyên biệt, như Na Uy và Italia, vai trò hệ thống các trường chuyên biệt (tại Na Uy, các trường học chuyên biêt trước đó, được chuyển thành điều khoản của các Trung tâm nguồn của khu vực hoặc quốc gia). Tại Síp, năm 1999 nhu cầu đặc biệt Luật Giáo dục yêu cầu các trường học chuyên biệt mới phải được xây dựng trong khu vực gần một trường học phổ thông để tạo điều kiện liên lạc và kết nối mạng lưới và  thúc đẩy GDHN.

Báo cáo các nước cho thấy kinh phí không tăng cường nhiều cho GD hòa nhập; và vẫn tồn tại hệ thống các trường chuyên biệt không muốn bớt nguồn kinh phí, GV được đào tạo cho các trường hòa nhập còn thiếu; Tuy nhiên, ngày một có nhiều nơi phát triển trường chuyên biệt thành trung tâm nguồn.

Ở các nước có một hệ thống giáo dục nhu cầu đặc biệt tương đối lớn, trường chuyên biệt đang tích cực tham gia nhiều hơn trong quá trình thực hiện GDHN. Tuy nhiên, ở những quốc gia tiến trình này vẫn còn chậm và khó khăn (Bỉ, Đức, Hà Lan, Pháp). GV chuyên môn và các chuyên gia khác làm việc trong hệ thống trường chuyên biệt thường tự coi mình là chuyên gia về nhu cầu GDĐB và thường nghĩ rằng chúng đáp ứng các nhu cầu và thách thức các quan niệm về hòa nhập.

Có một số nước bắt đầu thay đổi hệ thống hỗ trợ kinh phí để có nhiều dịch vụ hỗ trợ hòa nhập hơn nhưng cũng có các nước nhận thức tầm quan trọng của việc cần thiết phân bổ cần bằng cho hòa nhập và chuyên biệt.

Quyền lựa chọn của cha mẹ là rất quan trọng. Những thành công của GDHN cũng  giúp tăng lựa chọn môi trường học cho cha mẹ trẻ.
Vai trò thực hiện KHGDCN trong thực tế đáp ứng nhu cầu của trẻ là phổ biến.

1.3. Kế hoạch Giáo dục cá nhân

Hầu hết các nước sử dụng các chương trình giáo dục cá nhân cho học sinh có nhu cầu đặc biệt để giúp điều chỉnh chương trình ở lớp hòa nhập, xác định nguồn hỗ trợ, mục tiêu, đánh giá và tiếp cận giáo dục.

KHGDCN đưa ra thông tin về cách thứ chương trình giảng dạy chính cũng như điều chỉnh và các nguồn lực bổ sung, mục tiêu cần thiết và đánh giá các phương pháp giáo dục đối với từng trẻ. Sự thích nghi có thể có nhiều hình thức khác nhau và trong một số trường hợp, có mục tiêu điều chỉnh cụ thể của học sinh, thậm chí có thể là bỏ qua một số môn học trong chương trình học nói chung.
Với gần như tất cả các quốc gia, chương trình giáo dục cá nhân đóng một vai trò quan trọng đối với giáo dục nhu cầu đặc biệt. Nó là một trong những xu hướng hiện nay trên khắp châu Âu để sử dụng tài liệu đó để xác định 'học sinh nhu cầu, mục tiêu và phương tiện, và chi tiết mức độ và  cách thức điều chỉnh được thực hiện cho các chương trình giảng dạy chính thống để đánh giá sự tiến bộ của các em học sinh có liên quan. Nó cũng có thể được coi là một "thỏa thuận" giữa các "thành viên" khác nhau: cha mẹ, GV và các chuyên gia khác.

1.4. Hòa nhập và hỗ trợ GV

GV đứng lớp đóng một vai trò quan trọng vì công việc của họ là làm việc với học sinh có nhu cầu GDĐB học hòa nhập trong trường. Họ chịu trách nhiệm về tất cả các em học sinh. Khi cần, các GV GDĐB tiến hành hỗ trợ chính trong trường hòa nhập, hỗ trợ cả trong và ngoài lớp học.

Có sự phân biệt rõ ràng giữa một bên là những nước mà sự hỗ trợ được tiến hành bởi đội ngũ cán bộ chuyên biệt trong trường và một bên là những nước mà sự hỗ trợ được thực hiện bởi nhà chuyên môn chuyên biệt ngoài nhà trường. Trong trường hợp này, các trường chuyên biệt, mà thông qua đội ngũ GV, đóng vai trò chính trong việc hỗ trợ học sinh hòa nhập và GV đứng lớp. Tình huống này gắn liền với xu hướng những trường chuyên biệt ngày càng tăng cường hoạt động theo mô hình trung tâm nguồn. Cần nói thêm rằng ở một số quốc gia, chẳng hạn như Thụy Điển, cả hai hình thức hỗ trợ đều tồn tại.Hỗ trợ được xác định dành cho cả học sinh và GV, nhưng chủ yếu chú trọng vào học sinh, mặc dù một số quốc gia xác định rõ là cần ưu tiên hỗ trợ GV đứng lớp.

Vì vấn đề hỗ trợ học sinh được lưu tâm, các trường cần tiến hành một cách linh hoạt, tùy theo nguồn lực sẵn có và nhu cầu của học sinh, tiến hành hỗ trợ cả trong và ngoài lớp học. Các hình thức hỗ trợ chủ yếu dành cho GV gồm những loại sau: Cung cấp thông tin, Lựa chọn đồ dùng dạy học; Xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân; Tổ chức giờ dạy.

1.5. Một số thách thức hiện nay

Cha mẹ luôn muốn trường tốt nhất cho con mình nhưng chưa hẳn đã có nhận thức đúng về GDHN

Cần có hệ thống kiểm tra và đánh giá chất lượng của các dịch vụ hỗ trợ  học sinh  ở các trường hòa nhập

GDHN ở cấp Trung học cơ sở còn gặp nhiều khó khăn  nhất là về đào tạo cho GV và thái độ của GV

Một sô nước cho rằng cần tăng cường kinh phí cho quá trình dạy, cung cấp đồ dùng hỗ trợ hơn là kinh phí để đánh giá chẩn đoán, làm test nhưng đánh giá phát triển để cha mẹ biết được sự phát triển của con là rất cần thiết.

Chịu trách nhiệm ở các Bộ cũng là vấn đề, hiện nay ở hầu hết các nước là Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm  nhưng có nhiều nước có nhiều bộ tham gia chịu trách nhiệm.

2.  Những đề xuất trong vận dụng với thực tiễn giáo dục  hòa nhập trẻ có nhu cầu đặc biệt ở Việt Nam

2.1. Một số kết quả về tỷ lệ trẻ học hòa nhập và nghiên cứu về GV GDHN

Theo Báo cáo về kết quả theo dõi chính sách và luật pháp đối với trẻ em có những hoàn cảnh đặc biệt, và phòng ngừa chống thương tích trẻ em, ngày 17/10/2008, Ước tính rằng trong tổng số xấp xỉ 1 triệu TKT Việt Nam, chỉ có 269.000 hoặc 24,22% tổng số TKT đến trường. Trong khi con số đó cao hơn, cấp độ giáo dục chung của TKT ở độ tuổi 6–17 đến trường rất thấp. Cùng với Bộ LĐTB&XH, UNICEF báo cáo rằng 34% NKT tại Việt Nam mù chữ so với tỉ lệ người biết chữ tại Việt Nam là 91,1% tổng dân số.
           
Báo cáo nghiên cứu của UNICEF năm 2015  tại 8 tỉnh ở Việt Nam cho thấy tại  về GDHN cho thấy: Khoảng 65% GV không được tiếp cận chương trình tập huấn về GDHN; 73% GV không nhận được trợ giúp từ các trung tâm hỗ trợ hoặc mạng lưới GDHN để giúp họ nâng cao chuyên môn và kỹ năng.

2.2. Một số chính sách và cam kết về GDHN

Có thể thấy rằng, "Giáo dục cho mọi người" và triển khai các hoạt động  hỗ trợ thúc đẩy công tác GDHN  là mục tiêu mà nhà nước ta đang nỗ lực vươn tới, nhất là sau khi có Luật người khuyết tật ra đời năm 2010.

Xu hướng hiện nay trên thế giới về các  mục tiêu giáo dục cho tất cả trẻ em và Thanh thiếu niên là giống nhau, Các Bộ Luật và Chính sách hiện thời đều hướng đến GDHN và thực hiện GDHN là một trong  những vấn vấn đề thể hiện  công bằng xã hội – Một quyền cơ bản của con người .
 
Cam kết gần đây nhất của Chính phủ Việt Nam được thể hiện qua việc phê chuẩn công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật vào tháng 11/2014, đây là thời điểm mà Việt Nam cũng trải qua những chặng đường được thành tựu và kinh nghiệm trong công tác GDHN. Việt Nam ủng hộ GDHN và những nguyên tắc chính của phương pháp tiếp cận dựa trên quyền về không phân biệt.
Một  số thách thức cần phải tiếp tục khắc phục về mục tiêu để trẻ khuyết tật tiếp cận được GDHN có chất lượng, thân thiện, và bình đẳng.  Đó là: số lượng trẻ khuyết tật đi học  còn chủ yếu ở mầm non và tiểu học, một số tiếp tục học lên cấp trung học cơ sở, rất ít học ở các bậc học cao hơn; chưa có chương trình đào tạo giáo viên  các trường sư phạm môn Giáo dục hòa nhập; chất lượng giáo dục và dạy học hòa nhập cho các em còn nhiều bất cập; cơ sở vật chất nhà trường, trang thiết bị hỗ trợ cho trẻ khuyết tật học hòa nhập còn hạn chế; sự hợp tác giữa các ban ngành, sự tham gia của các tổ chức xã hội, các tổ chức của người khuyết tật chưa thực sự chặt chẽ và hiệu quả nhiều trẻ khuyết tật vẫn còn bị kỳ thị, việc triển khai các chính sách GDHN cho trẻ khuyết tật còn chưa được đồng bộ và hệ thống.

Kết luận và khuyến nghị

Kết luận

Giáo dục hòa nhập là phương thức được Công ước Liên hiệp Quốc về Quyền của người khuyết tật khuyến khích áp dụng và đã được các nước ở Châu Âu cũng như Việt Nam kí cam kết công ước này.  Vì vậy, thiết lập hệ thống chính sách và thúc đẩy thực hiện giáo dục hòa nhập ở các nước hiện nay là rất quan trọng. Bài học kinh nghiệm ở Châu Âu và thực tiễn ở Việt Nam cho thấy cần thực hiện và duy trì chiến lược và dịch vụ cung cấp giáo dục về nhu cầu đặc biệt để đảm bảo cơ hội cho trẻ có nhu cầu đặc biệt được hưởng lợi và tham gia học hòa nhập. Cần có sự hỗ trợ từ các cơ sở có chuyên môn cho cả giáo viên và trẻ có nhu cầu đặc biệt dựa vào các mô hình hỗ trợ mang tính linh hoạt và được phân cấp ở các địa phương dựa trên các mục tiêu và định hướng của quốc gia về giáo dục hòa nhập.

Khuyến nghị

- Cần thay đổi nhận thức về hòa nhập xã hội trong cộng đồng cho trẻ khuyết tật là rất cần thiết. Ở mọi nơi, chúng ta đều thấy cần phải có sự nhất quán về kiến thức, thái độ và hành động trong công tác GDHN, do đó, cần có sự  nỗ lực hơn nữa nhằm vào việc tuyên truyền cho sự thay đổi  nhận thức cả về  bể rộng và chiều sâu từ các đơn vị quản lí đến các tổ chức, cá nhân trực tiếp chỉ đạo, thực  hiện công tác giáo dục  hòa nhập.

- Cần trú trọng giúp trẻ khuyết tật tiếp cận với các dịch vụ và GDHN ở cấp địa phương trong cộng đồng, đặc biệt là  đảm bảo hài hòa, bền vững đối với các khu vực, nhất là sự quan tâm đến các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, với các gia đình khó khăn.

- Có định hướng và mục tiêu cụ thể về triển khai nhiệm vụ, chức năng và sự tham gia của Trung tâm Nguồn tại các Tỉnh.

- Thúc đẩy việc thực hiện các quy định pháp luật về GDHN tại các địa phương.

- Cần có sự đầu tư, nhất quán về đưa môn học GDHN chương trình đào tạo cho các GV tương lai để đón đầu cho việc chuẩn bị nguồn nhân lực trong tổ chức GDHN ở các trườn g sư phạm.

- Cần có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ trong công tác chỉ đạo giữa các đơn vị trong Bộ, giữa Bộ với các địa phương, giữa địa phương với các cơ sở.

Tài liệu tham khảo

Tạp chí khoa học, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, kỉ yếu Hội thảo quốc tế, Chất lượng GDHN trẻ khuyết tật ở Việt Nam: Thực trạng và Giải pháp, Volume 60, No. 6BC, tháng 8 2015

Unicef, Sự sẵn sàng cho Giáo dục trẻ khuyết tật ở Việt Nam, Nghiên cứu tại 8 tỉnh ở Việt Nam, 2015

Meijer, C.J.W. (2005) Inclusive education and classroom practice in Secondary Education. Middelfart: European Agency for Development in Special Needs Education.

Carpenter, B. (2005), ‘Early childhood intervention: possibilities and prospects for professionals, families and children’, British Journal of Special Education 32.4: pp.176–183.

EADSNE (2006), Euronews on Special Needs Education, Issue No.15. As of 30 March 2013: http://www.european-agency.org/news
Tin bài khác