Sách - Ấn phẩm
Kinh nghiệm thực tiễn giáo dục trẻ khuyết tật tại Trung tâm phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An
22/11/2016 10:29
Trần Văn Lý – Thầy thuốc ưu tú - BS chuyên khoa II
Trung tâm phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An
 
Tóm tắt: Là đơn vị trực thuộc Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội, được thành lập năm 1976, Trung tâm phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An trung tâm phục hồi khép kín, toàn diện cả về thể chất và tinh thần, kết hợp chặt chẽ giữa phục hồi chức năng về y học, giáo dục đặc biệt, giáo dục hòa nhập, hướng nghiệp dạy nghề, tổ chức lao động sản xuất và công tác xã hội...trợ giúp các cháu KT phục hồi chức năng, phát huy khả năng còn lại của bản thân sớm hoà nhập cộng đồng, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội. Trải qua 39 năm hình thành và phát triển, Trung tâm đã từng bước đạt được những thành tựu lớn trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, tạo cơ hội việc làm và hòa nhập cộng đồng cho trẻ khuyết tật.

Đặt vấn đề

“Tất cả mọi trẻ em sinh ra đều có quyền được đi học” điều này đã được khẳng định trong Công ước của Liên hợp Quốc về quyền trẻ em. Trẻ khuyết tật (KT) cũng như bao trẻ em khác đều có quyền được học tập, vui chơi và tham gia vào mọi hoạt động của xã hội trong khả năng có thể. Song do ảnh hưởng của khuyết  tật và các rào cản khác nhau khiến cho việc sinh hoạt, học tập, lao động và hòa nhập cộng đồng  của các em gặp rất nhiều khó khăn. Để tạo cơ hội hòa nhập cộng đồng cho các em KT thì giáo dục là một trong những biện pháp có vị trí và vai trò quan trọng, đặc biệt là giáo dục tiếp cận dựa trên đánh giá tổng thể cá nhân, khả năng và nhu cầu của từng cá nhân trẻ.

Theo Tổ chức y tế thế giới thì ở Việt Nam có hơn 8 triệu người KT (chiếm 10% dân số) trong đó trẻ em KT khoảng 3,5 triệu (chiếm 43,75%). Việc xây dựng mạng lưới giáo dục cho trẻ KT đã và đang được Đảng và nhà nước cũng như tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước quan tâm.

Trên thế giới và Việt nam có ba hình thức giáo dục cho trẻ KT đó là; giáo dục đặc biệt, giáo dục bán hòa nhập và giáo dục hòa nhập. Ba hình thức này nếu kết hợp chặt chẽ và hỗ trợ nhau sẽ đem lại hiệu quả cao cho giáo dục trẻ KT, nhưng trên thực tế mạng lưới chưa đáp ứng đủ nhu cầu của trẻ và gia đình trẻ KT, đặc biệt là trẻ KT lớn và nặng, trẻ KT ở nông thôn và miền núi. Trong điều kiện nước ta hiện nay song song với việc phát triển giáo dục hòa nhập, cần phát triển mô hình chăm sóc, giáo dục toàn, diện khép kín cho trẻ KT là rất cần thiết, đáp ứng được nhu cầu của trẻ và gia đình trẻ KT phù hợp với  tình hình thực tiễn ở Việt Nam.

Trung tâm phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An trực thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, là trung tâm phục hồi khép kín, toàn diện cả về thể chất và tinh thần, kết hợp chặt chẽ giữa phục hồi chức năng về y học, giáo dục đặc biệt, giáo dục hòa nhập, hướng nghiệp dạy nghề, tổ chức lao động sản xuất và công tác xã hội…trợ giúp các cháu KT phục hồi chức năng, phát huy khả năng còn lại của bản thân sớm hoà nhập cộng đồng, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Trải qua 39 năm xây dựng và phát triển, Trung tâm đã thực hiện chăm sóc, phục hồi chức năng, giáo dục, hướng nghiệp dạy nghề cho 2655 trẻ KT ở các dạng tật khác nhau, sau khi tham gia mô hình giáo dục tại Trung tâm các cháu đã trở về địa phương sống hòa nhập cộng đồng. Trong số cháu về địa phương và gia đình, có nhiều cháu đã tự lập được cuộc sống ổn định, xây dựng gia đình hạnh phúc, có 161 cháu vào làm việc trong các cơ quan , 05 cháu đi lao động hợp tác nước ngoài, 24 cháu thi đỗ và tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp, 2cháu là thạc sỹ, đặc biệt một cháu đang làm Tiến sỹ. 1 cháu đang làm việc tại Bệnh viện Vimec và là vận động viên quốc gia môn cờ vua đã 2 lần đạt huy chương vàng …Với những kết quả đạt được của mô hình giáo dục cho trẻ KT tại Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An. Chúng tôi nhận thấy đây là mô hình hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tiễn ở Việt Nam. Vì vậy chúng tôi xin phép chia sẻ: “Kinh nghiệm thực tiễn giáo dục trẻ KT tại Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An”

1. Mô hình giáo dục trẻ KT tại Trung tâm PHCN trẻ tàn tật Thụy An

1.1. Vài nét về Trung tâm PHCN trẻ tàn tật Thụy An

Chức năng, nhiệm vụ

Trung tâm phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội được thành lập năm 1976. Với chức năng, nhiệm vụ: Khám, tiếp nhận chăm sóc, nuôi dưỡng, chỉnh hình phục hồi chức năng, giáo dục, hướng nghiệp dạy nghề, công tác xã hội... cho trẻ em KT là đối tượng con liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, các cháu bị tàn tật do di chứng của chất độc da cam, và con em các gia đình nghèo của các tỉnh thành phía Bắc Việt Nam.

Cơ cấu tổ chức : Ban giám đốc và 6 khoa phòng:                                        
+ Khoa Khám bệnh - Dược - Cận lâm sàng:             
+ Khoa Phục hồi chức năng:                                      
+ Phòng Giáo dục đặc biệt – Công tác xã hội:          
+ Phòng Hướng nghiệp dạy nghề:                             
+ Phòng Tổ chức – Hành chính – Tổng hợp:             
+ Phòng Kế toán - Tài vụ:   
                                         
 Đối tượng trẻ KT tại Trung tâm

- Trung tâm là cơ sở phục hồi chức năng, giáo dục toàn diện khép kín cho trẻ em KT, hàng năm Trung tâm tiếp nhận khoảng 200 cháu KT với mức độ, dạng tật khác nhau trong đó:
 
Dạng KT Tỷ lệ %
Trẻ tật vận động 35
Trẻ chậm phát triển trí tuệ 20
Trẻ tự kỷ 15
Trẻ khiếm thính                                          20
Trẻ đa tật 10
 

 
- Trẻ em KT tại Trung tâm đến từ các tỉnh thành thành phía Bắc, đa số có hoàn cảnh gia đình và kinh tế rất khó khăn; trẻ em KT điều trị nội trú tại Trung tâm với sự trợ giúp hoàn toàn 24/24h của  nhân viên đơn vị (không có gia đình đi kèm),

- Trong số trẻ em KT không ít trẻ em là người dân tộc thiểu số (10 dân tộc khác nhau), vốn tiếng kinh kém, sự hiểu biết hạn chế dẫn đến những khó khăn gặp phải trong quá trình  giao tiếp, học tập, phục hồi chức năng, văn hóa và lối sống.

1.2. Hoạt động giáo dục trẻ KT tại trung tâm

Khám sàng lọc, chẩn đoán, phân loại

Hàng năm, Trung tâm liên hệ với các sở, phòng Lao động thương binh và xã hội của các tỉnh để tổ chức khám tiếp nhận trẻ. Trung tâm cử đoàn khám tuyển gồm: Bác sĩ, kỹ thuật viên, giáo viên…khám sức khỏe thể chất và tinh thần cho trẻ, lập hồ sơ bệnh án, sau khi khám dựa trên bệnh án Trung tâm họp Hội đồng tiếp nhận các cháu, một số trường hợp phụ huynh đưa con đến khám trực tiếp tại Trung tâm. Sau khi tiếp nhận trẻ được đánh giá lại mức độ KT, dựa vào kết quả đánh giá phân loại dạng tật, mức độ KT, khả năng, nhu cầu và sức khỏe, trẻ sẽ được PHCN và tham gia vào các hình thức giáo dục phù hợp với khả năng và nhu cầu của từng trẻ. Phân loại KT dựa  theo ICF nhằm đánh giá chức năng hiện tại của trẻ.

Trong quá trình giáo dục trung tâm thường xuyên tổ chức đánh giá định kỳ khả năng phát triển của trẻ để có sự lựa chọn phương pháp phù hợp.

Mô hình giáo dục chuyên biệt

Đối với những trẻ KT không có khả năng tham gia mô hình giáo dục hòa nhập, trung tâm tổ chức giáo dục cho trẻ theo mô hình chuyên biệt tại trung tâm và do phòng Giáo dục chuyên biệt phụ trách. Trẻ được đánh giá, phân loại xếp lớp theo cùng dạng và mức độ KT. Trung tâm tổ chức chương trình giáo dục chuyên biệt cho trẻ chậm phát triển trí tuệ, trẻ em khiếm thính; trẻ tự kỷ theo hình thức cá nhân và nhóm (lớp) với cơ cấu lớp học gồm:

04 lớp dạy văn hóa cho trẻ chậm phát triển trí tuệ theo chương trình tiền tiểu học và tiểu học.
02 lớp dạy chức năng sinh hoạt cho trẻ chậm phát triển trí tuệ ở mức độ nặng.
04 lớp dạy văn hóa cho trẻ khiếm thính theo chương trình tiểu học.
03 lớp can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ lớn tuổi (từ 6 – 14 tuổi)
01 lớp can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ nhỏ tuổi (dưới 6 tuổi)
02 phòng trị liệu ngôn ngữ và 05 phòng can thiệp cá nhân.

a, Các hoạt động giáo dục chuyên biệt cho trẻ khiếm thính

- Hoạt động dạy văn hóa (thuộc phòng giáo dục chuyên biệt đã được phòng giáo dục Huyện Ba vì công nhận, được cấp học bạ)

Đối với những trẻ khiếm thính lớn (lớn hơn 6 tuổi), không qua chương trình can thiệp sớm phát triển ngôn ngữ lời nói, mức độ điếc nặng và sâu (không có khả năng tiếp nhận âm thanh khi đeo máy trợ thính), Trung tâm tiến hành giáo dục theo mô hình chuyên biệt. Kết hợp giữa dạy văn hóa theo trình tiểu học kết hợp PHCN lao động hướng nghiệp nghề (cho trẻ lớn >12 tuổi).

Nội dung chương trình dạy văn hóa cho trẻ khiếm thính được xây dựng dựa trên chương trình tiểu học do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành có sự điều chỉnh một số môn học và nội dung môn học phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ khiếm thính. Đồng thời kết hợp với chương trình giáo dục của viện khoa học giáo dục. Sau khi hết chương trình tiểu học, trẻ khiếm thính được phòng giáo dục huyện Ba Vì xét và cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình tiểu học.

Phương pháp dạy học: Phối hợp các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy khả năng còn lại và hạn chế những khó khăn của trẻ khiếm thính. Sử dụng tốt phương pháp trực quan, đóng vai, sử dụng phương pháp giao tiếp tổng thể trong quá trình giáo dục cho trẻ.
 
 Lớp học chuyên biệt cho học sinh khiếm thính
 
- Hoạt động dạy nghề:

Đối với trẻ lớn tuổi và trẻ học hết chương trình văn hóa, Trung tâm tổ chức hướng nghiệp dạy một số nghề cơ bản như: Làm hương, thêu, hoa, tranh đá, may…

- Kỹ năng sống:

Trẻ khiếm thính nhỏ, Trung tâm tổ chức dạy trẻ các kỹ năng sinh hoạt như: Đi vệ sinh, tắm, đánh răng, rửa mặt, mặc quần áo…
 

Dạy kỹ năng tự lập cho trẻ KT
 
Trẻ khiếm thính lớn, Trung tâm tư vấn tâm sinh lý, giáo dục giới tính, dạy việc nhà…

Kết quả: Sau khi tham gia chương trình giáo dục chuyên biệt tại Trung tâm, trẻ  khiếm thính sử dụng thành thạo ngôn ngữ ký hiệu trong giao tiếp với người khiếm thính và sử dụng được chữ viết để giao tiếp với mọi người xung quanh. Trẻ thực hiện thành thạo các phép toán cộng, trừ, nhân, chia và sử dụng thành thạo tiền trong mua bán. Đặc biệt là trẻ rất thành thục trong các kỹ năng tự lập (ăn, uống, tắm, vệ sinh cá nhân…), kỹ năng làm việc nhà (dọn nhà, giặt quần áo, nấu cơm..). Một số cháu khi trở về địa phương đã sử dụng được nghề đã học mang lại nguồn thu nhập ổn định.

b, Các hoạt động giáo dục chuyên biệt cho trẻ CPPTT

- Hoạt động dạy văn hóa:

Đối với những trẻ CPPTT, trẻ KT vận động có mức độ trí tuệ trung bình, gặp khó khăn trong việc tham gia học hòa nhập như: khó khăn về học một số môn, khó khăn về đọc viết, khó khăn về giao tiếp, Trung tâm tiến hành dạy văn hóa theo chương trình tiền tiểu học và tiểu học. Trong quá giáo dục với những trẻ có tiến bộ tốt trung tâm đưa các cháu ra học hòa nhập.

Đối với học sinh CPTTT có mức độ nặng, Trung tâm đưa các cháu vào lớp chức năng sinh hoạt dạy các cháu các kĩ năng như: ngôn ngữ và giao tiếp, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng nhận thức…nhằm cung cấp cho trẻ những kỹ năng cơ bản cho trẻ, nâng cao nhận thức, giảm tải hành vi không mong muốn.
 Nội dung chương trình dạy trẻ CPTTT được trung tâm xây dựng trên chương trình dành cho trẻ mầm non, chương trình tiểu học kết hợp các chương trình giáo dục chuyên biệt dành cho trẻ CPPTT.

Phương pháp dạy học: Sử dụng các phương pháp chuyên biệt cho trẻ CPTTT như: Xâu chuỗi, trực quan, phân tích hành vi ứng dụng…
 

 
 
- Hoạt động dạy nghề:

Đối với trẻ CPTTT có khả năng theo học nghề, trung tâm tổ chức hướng nghiệp dạy một số nghề cơ bản như: Làm hương, thêu, hoa, tranh đá, may, làm vườn…

- Kỹ năng sống:

Trẻ CPTTT ở mức độ nặng, Trung tâm tổ chức dạy trẻ các kỹ năng sinh hoạt như: Đi vệ sinh, tắm, đánh răng, rửa mặt, mặc quần áo…thông qua lớp chức năng sinh hoạt, tiết cá nhân, qua hoạt động chăm sóc.

Trẻ khiếm thính lớn, Trung tâm tư vấn tâm sinh lý, giáo dục giới tính, dạy việc nhà…

Kết quả: Sau khi tham gia chương trình giáo dục chuyên biệt tại Trung tâm, trẻ CPTTT hoàn thành chương trình tiểu học với trẻ theo học văn hóa. Trẻ học kỹ năng sống, các cháu được nâng cao về mặt nhận thức, ngôn ngữ và giao tiếp và  các kĩ năng tự lập trong cuộc sống. Nhiều trẻ ra hòa nhập cộng đồng tốt và có khả năng tự lập trong cuộc sống.

c, Các hoạt động GDCB cho trẻ tự kỷ

- Can thiệp sớm:

Dành cho trẻ tự kỷ trước 6 tuổi còn hạn chế chưa tham gia mô hình hòa nhập hiệu quả. Trung tâm tổ chức lớp can thiệp sớm theo mô hình bán trú, trẻ được trị liệu theo hình thức nhóm và cá nhân với các kỹ năng như: ngôn ngữ và giao tiếp, hành vi, kỹ năng xã hội, kỹ năng chơi…

Trung tâm sử dụng kết hợp nhóm phương pháp y sinh (điều trị thuốc, xoa bóp bấm huyệt, vận động trị liệu…) và nhóm phương pháp tâm lý giáo dục (Phân tích hành vi ứng dụng (ABA), hệ thống giao tiếp trao đổi qua tranh (PECS), cấu trúc và lịch trình (TEACCH)…).

Sau quá trình can thiệp, trẻ có sự tiến bộ rõ rệt thể hiện trên thang điểm đánh giá mức độ tự kỷ CARS, với những trẻ có điểm tự kỷ ở mức độ trung bình và nhẹ, trung tâm tư vấn cho trẻ tham gia học hòa nhập và hỗ trợ tư vấn phụ huynh. Năm 2015 tổng số lượt trẻ tham gia can thiệp sớm là 16 trẻ, trong đó có 09 trẻ gia hòa nhập ở mầm non
 

 

Can thiệp trẻ tự kỉ
 
- Can thiệp chuyên biệt cho trẻ tự kỷ lớn và nặng:

Trẻ tự kỷ có độ tuổi trên 6 tuổi và điểm tự kỷ theo thang đánh giá GILLIAM với điểm tự kỷ ở mức độ trên trung bình, nặng và rất nặng (từ 111 – 131 điểm) [3], điểm trung bình GILLIAM của 31 trẻ tự kỷ đang can thiệp tại Trung tâm là 112,06 điểm [4], trung tâm tiến hành can thiệp theo mô hình chuyên biệt và đa phần trẻ ở nội trú tại trung tâm.

Với việc áp dụng các phương pháp can thiệp cho trẻ tự kỷ phù hợp với đặc điểm của trung tâm, kết hợp giữa giáo dục, y học và chăm sóc toàn diện. Qua quá trình can thiệp trẻ tự kỷ lớn có sự tiến bộ vượt bậc thể hiện trên thang điểm GILLIAM đã có sự giảm điểm đánh kể. Được thể hiện rõ trong kết quả đánh giá 31 trẻ được chăm sóc, can thiệp theo mô hình can thiệp trẻ tự kỷ toàn diện tại trung tâm sau thời gian can thiệp[4].
 

Biểu đồ: Giảm điểm GILLIAM sau quá trình can thiệp
 
d, Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp trẻ tự tin hơn để hòa nhập cộng đồng

Do trẻ KT nội trú, nên ngoài các hoạt động trong giờ thì công tác quản lý giáo dục ngoài giờ lên lớp có vai trò quan trọng. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là sự tiếp nối, bổ sung, hỗ trợ hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động.

Để đạt hiệu quả trong công tác quản lý, giáo dục trẻ KT ở ngoại trú, Trung tâm phân công quản lý giáo dục theo ca trực (ca trực gồm có: 01 lãnh đạo, 01 bảo vệ, 01 giáo viên, 01 y sinh và 02 nhân viên chăm sóc) với từng nhiệm vụ cụ thể.

Trung tâm phân công 01 cán bộ phụ trách bảo trợ cho 03 cháu nhằm gần gũi, động viên, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và giáo dục đạo đức cho trẻ.
Tổ chức Đoàn phụ trách các hoạt động văn hóa, thể thao cho trẻ sau giờ lên lớp. Ngoài ra những ngày nghỉ, Trung tâm thường xuyên tổ chức giao lưu văn nghệ với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm tạo môi trường hòa nhập, tạo không khí vui vẻ giúp các em phục hồi tốt về tinh thần.
 

 
 
2.2.5. Các hoạt động khác

Phối hợp các nguồn lực khác, hàng  năm trung tâm phối hợp tổ chức 70 đến 80 buổi giao lưu văn hóa văn nghệ với các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước, các trường đại học, phổ thông và các cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội…

Thường xuyên tổ chức các buổi tham quan, dã ngoại nhằm nâng cao nhận thức và khả năng hòa nhập cho trẻ 3- 4 lần /năm

Các hoạt động thể thao cho trẻ được thực hiện hàng ngày thông qua hoạt động của đoàn thanh niên.

Hoạt động tư vấn, tập huấn cho phụ huynh trong việc phối hợp giáo dục cho trẻ KT.

Công tác xã hội, xây dựng hồ sơ quản lý ca, có kế hoạch tham vấn, tư vấn, kết nối các nguồn lực trong và ngoài đơn vị để trợ giúp cho các em trong quá trình học tập, điều trị tại trung tâm và  học hòa nhập ngoài trường phổ thông, từ đó giúp đáp ứng hiệu quả nhất các nhu cầu cho các em.

Công tác lập và lưu trữ hồ sơ: Công tác lập lưu trữ hồ sơ trẻ được thực hiện khoa học, mỗi một trẻ sau khi khám sẽ được lập hồ sơ với đầy đủ thông tin cá nhân và tiến trình bệnh. Trung tâm tiến hành đánh giá, xây dựng chương trình can thiệp cho từng trẻ theo tháng, quý, năm sau đó sẽ đánh giá lại kết quả can thiệp theo định kì tháng, quý, năm.
Công tác can thiệp cộng đồng: Bên cạnh việc công tác can thiệp cho trẻ tự kỉ tại Trung tâm, công tác can thiệp cho trẻ tự kỉ tại cộng đồng cũng rất được chú trọng. Thường xuyên tổ chức tập huấn phụ huynh nhằm hướng dẫn phụ huynh cách chăm sóc, giáo dục trẻ tại gia đình. Ngoài ra trung tâm tiến hành tư vấn trực tiếp, qua điện thoại…cho phụ huynh về cách chăm sóc và can thiệp cho trẻ tại gia đình.

Phối hợp địa phương trong công tác khám, tư vấn cộng đồng. Mở các lớp tập huấn cho cán bộ, nhân viên, cộng tác viên cơ sở đang làm việc với trẻ KT.
  

 
 
Mô hình giáo dục hòa nhập

Đối với trẻ Chậm phát triển trí tuệ, trẻ KT vận động có khả năng tham gia học hòa nhập, Trung tâm chuyển các cháu ra học hòa nhập tại các trường phổ thông trên địa bàn. Hàng năm, trung tâm đưa khoảng 20 đến 30 trẻ tham gia học hòa nhập.

Trẻ khiếm thính nhỏ (dưới 6 tuổi), có khả năng đeo máy và phát triển được ngôn ngữ lời nói, trẻ tự kỷ ở mức độ nhẹ, Trung tâm giới thiệu các cháu ra học hòa nhập tại các trường mầm non và trung tâm hỗ trợ liệu ngôn ngữ cho trẻ, tư vấn phụ huynh và phối hợp với giáo viên mầm non.

Kết quả: Đa phần các cháu đều hoàn thành được chương trình giáo dục hòa nhập, một số cháu đạt được kết quả cao trong các kỳ thi, đặc biệt có nhiều cháu thi đỗ vào các trường cao đẳng và đại học chuyên nghiệp.

2. Đánh giá chung

2.1. Thuận lợi

- Trung tâm có diện tích rộng, môi trường xanh, sạch, đẹp, diện tích khu vui chơi ngoài trời rộng, thoáng rất phù hợp với công tác giáo dục cho trẻ KT ở nội trú.

- Là cơ sở phục hồi chức năng khép kín, toàn diện cả về thể chất, tinh thần, lao động sản xuất và công tác xã hội, cơ sở hạ tầng cơ bản đã bố trí sử dụng hợp lý, đáp ứng nhu cầu cần được trợ giúp của trẻ KT.

- Cơ sở hạ tầng, trang trang thiết bị, đồ dùng dạy học cơ bản đáp ứng được nhu cầu giáo dục cho trẻ em KT.

- Tập thể cán bộ nhân viên đoàn kết, nhiệt huyết với nghề và giầu kinh nghiệm PHCN cho trẻ KT.

2.2.  Khó khăn

- Nhận thức của cộng đồng về PHCN cho trẻ KT nói chung và giáo dục cho trẻ KT còn hạn chế. Nguồn nhân lực được đào tạo cho giáo dục trẻ KT còn thiếu về số lượng và chất lượng.

- Trẻ KT tại trung tâm khá nhiều dạng tật và ở nhiều mức độ và với nhiều độ tuổi khác nhau, nên việc đánh giá, phân loại, xếp lớp, xây dựng nội dung, lựa chọn phương pháp của giáo viên cũng gặp phải những khó khăn nhất định.

- Trẻ KT tại Trung tâm đa phần là ở vùng núi, con em dân tộc, hộ nghèo xa trung tâm, nên việc phối hợp giáo dục giữa gia đình và trung tâm còn gặp phải một số hạn chế.

- Cơ sở hạ tầng, phòng chuyên môn được xây dựng từ trước nên một số phòng học chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu hiện tại Nhiều trang thiết bị, khoa học tiên tiến chưa được bổ sung cập nhật kịp thời.

- Ở Việt Nam hiện chưa có mô hình chuẩn về giáo dục trẻ KT để thăm quan học hỏi vì vậy cần phải vừa làm vừa tiếp tục nghiên cứu.

3. Kết luận và khuyến nghị

3.1. Kết luận

Qua các hoạt động thực tế và những kết quả giáo dục cho trẻ KT đạt được trong 39 năm qua chúng tôi rút ra bài học kinh nghiệm sau:

Đánh giá trẻ KT theo ICF, lựa chọn mô hình giáo dục phù hợp với khả năng của mỗi trẻ. Hỗ trợ, khuyến khích trẻ, loại bỏ những rào cản giúp trẻ đạt được nguyện vọng theo khả năng của trẻ.

Phối kết hợp tốt với trường hòa nhập trong công tác đưa trẻ ra tham gia học hòa nhập bằng các hình thức: Thường xuyên liên hệ trao đổi với giáo viên chủ nhiệm của trẻ tại trường hòa nhập. Phân công giáo viên phụ trách việc học tập của trẻ tại trung tâm. Trẻ gặp khó khăn trong quá trình tham gia hòa nhập, trung tâm tổ chức các lớp học, tiết học phù đạo cho trẻ.

Chuẩn bị tốt về mặt tâm lý trước khi cho trẻ ra hòa nhập. Hàng năm, trung tâm tổ chức nhiều buổi giao lưu văn hóa, văn nghệ với học sinh các trường phổ thông nhằm tạo cho trẻ KT tự tin hơn trong cuộc sống đồng thời giúp học sinh bình thường có sự hiểu biết, chia sẻ, giúp đỡ các bạn KT.

3.2. Khuyến nghị

Đẩy mạnh công tác truyền thông nâng cao nhận thức tại cộng đồng về PHCN và giáo dục cho người KT.

Cần xây dựng và phát triển song song mô hình giáo dục chuyên biệt,bán hòa nhập  và giáo dục hòa nhập cho trẻ KT.

Đánh giá phân loại KT theo ICF, trên cơ sở đó phải có sự lựa chọn mô hình can thiệp, nội dung chương trình, phương pháp giáo dục phù hợp với từng trẻ KT.

Tăng cường đầu tư, phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng. Thông qua tuyển dụng giáo viên chuyên ngành, chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục trẻ KT, tổ chức tập huấn, tham gia tập huấn, mời chuyên gia trong và ngoài nước tiến hành tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên, nhân viên làm việc với trẻ KT.

Cần phát hiện sớm, can thiệp sớm để nâng cao chất lượng can thiệp cho trẻ. Phối hợp chặt chẽ với các trường hòa nhập trong công tác đưa trẻ ra hòa nhập.

Phối, kết hợp tốt các nguồn lực gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục trẻ KT. Luôn gần gũi, quan tâm, chia sẻ và nắm bắt kịp thời diễn biến tâm lý của trẻ để có  tư vấn, hỗ trợ kịp thời cho trẻ.


Tài liệu tham khảo

1. Cao Minh Châu (2015), Phục hồi chức năng lao động, NXB y học Hà nội
2. Vũ Thị Bích Hạnh (2007), Tự kỷ phát hiện sớm và can thiệp sớm, NXB Y học, Hà Nội
3. Gilliam JE (1995), Gilliam autism rating scale. Austin, TX:  Pro-Ed An International Publisher, USA.
4. Trần Văn Lý (2014), Luận văn Chuyên khoa II: Đánh giá nhu cầu PHCN của trẻ tự kỉ và kết quả mô hình can thiệp toàn diện cho trẻ tự kỉ tại Trung tâm PHCN trẻ tàn tật Thụy An
5. Nguyễn Xuâm Nghiên(2010), Vật lý trị liệu phục hồi chức năng, NXB y học Hà nội.
6. Quyết định số 1322/QĐ-LĐTBXH ngày 26 tháng 10 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, về việc kiện toàn, bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Trung tâm PHCN trẻ tàn tật Thuỵ An.
7. Nguyễn Thị Hoàng Yến (2003), tạp chí: Vì tương lai trẻ tự kỷ, Nhà xuất bản  đại học sư phạm Hà Nội; 13;7-9;15
8. Nguyễn Thị Hoàng Yến. Một số vấn đề về tâm lý trẻ KT – Tài liệu bài giảng dùng cho sinh viên khoa Giáo dục đặc biệt Trường Đại học sư phạm Hà Nội.
9. Nguyễn Thị Hoàng Yến (2013),  Tự kỷ những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học sư phạm.
 
 
 
Tin bài khác