Sách - Ấn phẩm
Hỗ trợ hòa nhập người khuyết tật thông qua giáo dục, đào tạo nghề và tăng cường liên kết các mạng lưới các Hội người khuyết tật
03/10/2016 09:53
ThS. Đinh Thị Nguyệt
Quản lý chương trình giáo dục tiểu vùng Mê Công
Tổ chức Catholic Relief Services
  
Tóm tắt: Tổ chức Catholic Relief Services (CRS) đã triển khai công tác hỗ trợ giáo dục hòa nhập (GDHN) cho trẻ khuyết tật từ năm 1997 tại Việt Nam. Trong hơn mười tám năm qua, tổ chức CRS đã hợp tác với Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT), Bộ Lao động, Thương binh, Xã hội (LĐTBXH), Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (KHGDVN) triển khai công tác giáo dục hòa nhập, dạy nghề/tạo việc làm, tăng cường mạng lưới các hội người khuyết tật (HNKT) và hội cha mẹ trẻ khuyết tật.

Kể từ đó CRS đã trực tiếp hỗ trợ trên 9.300 trẻ em khuyết tật qua các hoạt động can thiệp y tế, giáo dục hòa nhập tại các vùng dự án. Tại các tỉnh dự án, tỷ lệ đi học của các em khuyết tật đạt 60-70%, cao hơn mức trung bình của cả nước. Một số chương trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên và bộ tài liệu tập huấn cho giáo viên về giáo dục hoà nhập đã được xây dựng. Bộ GD&ĐT nhân rộng triển khai tập huấn bồi dưỡng cho giáo viên trong khoảng 9.000 trường mầm non và 15.000 trường tiểu học trên toàn quốc. CRS cũng hỗ trợ trong việc bồi dưỡng cán bộ cốt cán bậc Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở của 63 Sở GDĐT về giáo dục hoà nhập. Khoảng 6.400 giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục được tập huấn về các phương pháp dạy trẻ khuyết tật thông qua các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn do Bộ GD&ĐT và CRS tổ chức. Mô hình dạy nghề và tạo việc làm của tổ chức CRS đã hỗ trợ 1.450 thanh niên khuyết tật với tỉ lệ việc làm trên 60%. Ngoài ra qua mô hình thành lập hội cha mẹ trẻ khuyết tật, CRS đã tập huấn cho 1.486 cha mẹ tại vùng dự án về các kiến thức chăm sóc, hỗ trợ giáo dục trẻ khuyết tật.

Đặt vấn đề

Giáo dục hoà nhập đã được công nhận trên thế giới là một triết lý, một giải pháp nhằm đạt được sự công bằng, bình đẳng và chất lượng giáo dục cho mọi trẻ em, đặc biệt những em trước đây đã bị phân biệt và không được hoà nhập vào hệ thống giáo dục phổ thông do những nguyên nhân khuyết tật, do sự phân biệt chủng tộc, do vấn đề giới hay nhiều đặc điểm xã hội khác. Trong khi giáo dục hoà nhập đã được triển khai thành công trên nhiều quốc gia, thì nhiều quốc gia khác vẫn còn đang trong quá trình thí điểm để đạt được mục tiêu này.

Giáo dục hoà nhập được UNESCO định nghĩa là một quá trình nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi người học thông qua việc tăng cường sự tham gia của học sinh vào việc học tập và giảm thiểu sự bỏ rơi một số đối tượng người học trong quá trình học tập hoặc bỏ ngoài hệ thống giáo dục phổ thông. Điều này có nghĩa là mọi trẻ đều có quyền được hưởng giáo dục có chất lượng, một nền giáo dục mà nếu trong phạm vi có thể đạt được cần phải đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của các cá thể khác nhau.

Từ triết lý trên, tổ chức CRS tại Việt Nam đã bắt đầu triển khai thí điểm mô hình giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật vào năm 1997, hợp tác cùng Viện KHGDVN tại huyện Từ Liêm (Hà Nội) và huyện Thường Tín (Hà Tây cũ). Kết quả ban đầu cho thấy mô hình giáo dục hòa nhập chính là giải pháp phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam, đã tăng cường thay đổi nhận thức của cộng đồng và mang lại cơ hội học tập cho trẻ khuyết tật và gia đình.

Với sự hỗ trợ tài chính của cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) cùng nguồn đối ứng của tổ chức CRS và các nhà tài trợ khác, tổ chức CRS tiếp tục hợp tác với các đối tác Việt Nam ở cả cấp Trung ương, cấp tỉnh và địa phương mở rộng quy mô thí điểm công tác giáo dục hòa nhập tại các tỉnh Hòa Bình, Quảng Ninh và Ninh Bình từ năm 1998 đến năm 2002, tiếp tục mở rộng ra các tỉnh Quảng Nam, Ninh Bình vào năm 2005. Bộ GDĐT đã đánh giá các kết quả mô hình thí điểm và nhân rộng triển khai trên toàn quốc từ năm 2006 thông qua quyết định 23/2006-BGDĐT.

Triển khai các hoạt động hỗ trợ mang tính tổng thể từ khám và xác định dạng tật, nhu cầu của trẻ cho đến hỗ trợ can thiệp y tế, giáo dục hòa nhập, tăng cường chuyển giao giữa các bậc học, ứng dụng công nghệ thông tin trợ giúp, tập trung bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên, cán bộ quản lý và tăng cường vai trò cha mẹ và cộng đồng chính là những bài học kinh nghiệm trong việc đảm bảo quyền bình đằng và hòa nhập của người khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng của tổ chức CRS trong những năm qua.

1. Mô hình và cách tiếp cận trong hoạt động hỗ trợ hòa nhập người khuyết tật Việt Nam

a. Thí điểm – Đánh giá – Xây dựng chính sách và nhân rộng

Giáo dục hòa nhập được tổ chức CRS và Viện KHGD triển khai thí điểm ban đầu với quy mô nhỏ. Từ kết quả thực tế, mô hình đã được nhân rộng ra các tỉnh. Kết quả mô hình đã được báo cáo tới Bộ GDĐT, tạo tiền đề cho việc triển khai các hoạt động đánh giá kết quả và xây dựng các văn bản quy định về công tác giáo dục hòa nhập. Tổ chức CRS đã hợp tác với Bộ GDĐT xây dựng quy định số 23/2006-BGDĐT cũng như lồng ghép vấn đề giáo dục trẻ khuyết tật vào một loạt văn bản quy định của Bộ như quy định về trường chuẩn Tiểu học, Mầm non, điều lệ trường Mầm non, trường Tiểu học, THCS v.v.

Để hỗ trợ việc triển khai nhân rộng, việc đầu tư bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán ngành giáo dục là cần thiết. Do vậy tổ chức CRS đã phối hợp với Bộ GDĐT triển khai xây dựng tài liệu bồi dưỡng giáo viên về giáo dục hòa nhập các cấp, xây dựng mô-đun về giáo dục hòa nhập để đưa vào các chương trình đào tạo sư phạm tại các trường Cao đẳng, Đại học, xây dựng chương trình và tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý các cấp về công tác giáo dục hòa nhập, và triển khai một loạt các lớp đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, giáo viên. Đây là một cách tiếp cận đã được các chuyên gia trong và ngoài nước đánh giá là phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện tại Việt Nam.
 
 
  
b. Mô hình hỗ trợ tổng thể tăng cường hòa nhập người khuyết tật


Với mục tiêu nhằm hỗ trợ người khuyết tật được hưởng các quyền đầy đủ và hòa nhập trong xã hội, tổ chức CRS tiếp tục tăng cường việc triển khai các hoạt động hỗ trợ trẻ khuyết tật từ việc xác định nhu cầu, lập kế hoạch can thiệp y tế, hỗ trợ giáo dục hòa nhập ở cấp Mầm non, Tiểu học và tiến tới cấp THCS, dạy nghề/tạo việc làm và hỗ trợ hòa nhập xã hội. Dự án “Hòa nhập người khuyết tật Việt Nam” với nguồn hỗ trợ kinh phí từ USAID, đối ứng của CRS và các nhà tài trợ khác đã được triển khai 10 năm. Mô hình đã được đánh giá triển khai hiệu quả, đặc biệt giúp tăng cường tỉ lệ trẻ khuyết tật đi học trong các vùng dự án đạt trên 70%, làm thay đổi nhận thức của gia đình, nhà trường và cộng đồng về quyền được đi học của trẻ khuyết tật, đưa công tác giáo dục hòa nhập thành một nhiệm vụ của ngành giáo dục. Mô hình cũng đã chứng minh được tính hiệu quả và bền vững của công tác bồi dưỡng giáo viên về giáo dục hòa nhập ở các cấp cũng như việc tăng cường công tác chuyển giao giữa các bậc học nhằm đảm bảo trẻ khuyết tật sẽ luôn có cơ hội tiếp tục việc học ở bậc học cao hơn. Thực tiễn triển khai cho thấy cần phải nâng cao nhận thức cho toàn cộng đồng xã hội về quyền được giáo dục, được dạy nghề và tạo việc làm của người khuyết tật và thay đổi các chính sách nhà nước để đáp ứng các quyền cơ bản này trong các chương trình hiện có. Vai trò của gia đình vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo trẻ đạt được kết quả tốt hơn.

Tổ chức CRS triển khai mô hình hỗ trợ tổng thể tại tỉnh Ninh Bình và tỉnh Quảng Nam từ năm 2005 đến 2015. Tại các huyện dự án, CRS đã phối hợp với đối tác các cấp triển khai xác định trẻ khuyết tật, đánh giá nhu cầu, nâng cao nhận thức về quyền của trẻ khuyết tật, tập huấn bồi dưỡng giáo viên về chuyên môn dạy hòa nhập, tập huấn cho cán bộ quản lý về công tác quản lý triển khai giáo dục hòa nhập, tập huấn cho cha mẹ, cộng đồng các kiến thức cơ bản về khuyết tật, phục hồi chức năng và phối hợp với nhà trường. Dự án đã thí điểm triển khai việc thành lập và nâng cao năng lực cho hội cha mẹ trẻ khuyết tật, gắn liền với Hội người khuyết tật tại địa phương hoạt động trên tinh thần tự nguyện và vì mục tiêu hòa nhập trẻ khuyết tật.

- Trên 9.300 trẻ khuyết tật hưởng lợi trực tiếp từ các vùng dự án qua các hoạt động khám sàng lọc, can thiệp y tế, giáo dục hòa nhập;
- Gần 6.400 giáo viên và cán bộ quản lý các cấp được tập huấn về giáo dục hòa nhập;
- 1.486 cha mẹ được tập huấn về vần đề khuyết tật, công tác giáo dục hòa nhập và phối hợp cộng đồng;
- 74 hội cha mẹ cấp xã và cấp huyện được thành lập hỗ trợ các hoạt động hòa nhập trẻ khuyết tật;
- 1.450 thanh niên khuyết tật được đào tạo về CNTT với tỉ lệ việc làm trên 60%.
- Xây dựng bộ tài liệu tập huấn về giáo dục hòa nhập theo các chuyên đề, chương trình và tài liệu tập huấn công tác quản lý giáo dục hòa nhập; mô đun giáo dục hòa nhập và chương trình đào tạo giáo dục đặc biệt cấp Mầm non.
- Sửa đổii các văn bản của ngành lồng ghép vấn đề giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật.

c. Ứng dụng CNTT – giải pháp nhằm giảm thiểu rào cản của người khuyết tật trong tiếp cận giáo dục và việc làm

Kinh nghiệm triển khai chương trình dạy nghề/tạo việc làm cho thanh niên khuyết tật về CNTT cho thấy việc ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục, dạy nghề/tạo việc làm và hòa nhập xã hội của người khuyết tật là vô cùng cần thiết, nhằm giảm thiểu những khó khăn rào cản đối với người khuyết tật (trong giao tiếp, tiếp cận thông tin, điều kiện đi lại v.v.). Từ đó tổ chức CRS cùng hợp tác với Bộ GDĐT nghiên cứu thí điểm mô hình ứng dụng CNTT tăng cường cơ hội học tập và kết quả học hòa nhập của trẻ khuyết tật. Trong giai đoạn (2012-2015), tổ chức CRS đã tiếp tục hợp tác với Bộ GD&ĐT, đặc biệt với Vụ Giáo dục Tiểu học và Vụ Giáo dục Trung học phát triển và thí điểm các công nghệ trợ giúp như phần mềm Tổng hợp tiếng nói Việt, phần mềm đọc màn hình mã nguồn mở (viết tắt theo tiếng Anh là NVDA) nhằm hỗ trợ người khiếm thị, xây dựng thí điểm các băng hình  bài giảng với hai môn Toán và Tiếng Việt lớp 5 có sử dụng ngôn ngữ ký hiệu dành cho học sinh khiếm thính, xây dựng hướng dẫn kỹ thuật về cách tổ chức các kỳ thi cho học sinh khuyết tật và xây dựng mô hình giáo dục từ xa để tạo cơ hội cho trẻ em khuyết tật nặng hoặc các em học sinh khuyết tật hiện không có khả năng đi học cũng như giúp các em đang học hòa nhập nâng cao kết quả học tập.

Dự án đã xây dựng một trang mạng học từ xa với địa chỉ www.giaoduchoanhap.edu.vn cũng như một thư viện tập hợp trên 100 tài liệu chung và tài liệu chuyên môn về giáo dục trẻ khuyết tật trong và ngoài nước. Bộ GDĐT đã triển khai thí điểm các ứng dụng này tại 10 tỉnh thành (Tp Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, tỉnh Thái Nguyên, Hải Dương, Ninh Bình, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Đồng Tháp, Lâm Đồng) tại một số trường phổ thông, các cơ sở giáo dục chuyên biệt, các trung tâm nuôi dạy trẻ khuyết tật và thông qua việc học tại nhà.

Qua đánh giá độc lập, kết quả cho thấy việc ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ khuyết tật là phù hợp và hiệu quả, giúp trẻ khuyết tật có cơ hội tiếp cận nhiều thông tin, kiến thức hơn, và tiếp tục học tập ở các bậc học cao hơn. Bộ GDĐT đã xác định cần phải duy trì và nhân rộng ý tưởng để mở rộng việc triển khai ra các tỉnh thành khác cũng như mở rộng quy mô phát triển tài liệu học tập cho trẻ ở các môn học và bậc học khác trong thời gian tới.

- Trang giáo dục từ xa được xây dựng và duy trì www.giaoduchoanhap.edu.vn
- 210 tiết học Ngữ văn và Tin học lớp 6 đã được xây dựng với các kênh hỗ trợ bằng hình ảnh, âm thanh, ngôn ngữ ký hiệu và đăng tải trên trang mạng;40 băng hình bài giảng sử dụng ngôn ngữ ký hiệu cho môn Toán và Tiếng Việt lớp 5 đã được xây dựng.
- Thư viện tập hợp trên 100 tài liệu về giáo dục trẻ khuyết tật trong và ngoài nước.
- Các ứng dụng được thí điểm tại 10 tỉnh thành trong 42 cơ sở giáo dục, với sự tham gia của 737 học sinh, 184 giáo viên, 160 cán bộ quản lý và gia đình trẻ.

d. Hòa nhập xã hội của người khuyết tật thông qua phát triển và tăng cường liên kết mạng lưới các tổ chức của người khuyết tật

Từ năm 2008, với nguồn tài trợ của tổ chức Caritas Úc, tài trợ của CRS, và các nguồn từ nhà tài trợ cá nhân, tổ chức CRS đang tiếp tục xây dựng năng lực của các hội cha mẹ trẻ khuyết tật và các tổ chức của người khuyết tật (NKT) nhằm thúc đẩy và vận động quyền của người khuyết tật thông qua dự án “Hòa nhập xã hội của người khuyết tật thông qua phát triển và tăng cường liên kết mạng lưới các tổ chức của người khuyết tật”. Dự án nhằm nâng cao tiếng nói của NKT trong việc tham gia đối thoại chính sách với cơ quan nhà nước và thúc đẩy hòa nhập xã hội và nâng cao vị thế của người khuyết tật trong cộng đồng.

Cho đến nay, 74 Hội cha mẹ TKT, bao gồm hội cha mẹ TKT vùng dân tộc thiểu số đã được hỗ trợ thành lập và nâng cao năng lực. Khoảng 1.500 trẻ khuyết tật được hỗ trợ trực tiếp tại các tỉnh Bình Định, Quảng Nam, Quảng Trị, Ninh Bình và Tp Hà Nội. CRS đã hỗ trợ nâng cao năng lực cho 42 Hội người khuyết tật các cấp tại các tỉnh dự án, tăng cường liên kết mạng lưới giữa Hội người khuyết tật, Hội cha mẹ với các chính quyền các cấp nhằm mục tiêu hỗ trợ hòa nhập trẻ khuyết tật và người lớn khuyết tật tại cộng đồng.

Dự án đang tăng cường liên kết các tổ chức của người khuyết tật với hội cha mẹ trẻ khuyết tật nhằm đảm bảo sự tham gia ở các cấp và tăng cường việc thực hiện chính sách và các dịch vụ xã hội được  đáp ứng nhu cầu của NKT.

- 1,021 trẻ khuyết tật được khám sàng lọc, hỗ trợ can thiệp y tế và tham gia các hoạt động học tập;105 trẻ khuyết tật nặng được hỗ trợ dạy tại nhà;
- 74 hội cha mẹ trẻ khuyết tật được thành lập và tham gia hỗ trợ việc hòa nhập của trẻ em khuyết tật tại cộng đồng;trên 1.400 thành viên của Hội cha mẹ được dự án tập huấn;
- 4 Hội người khuyết tật cấp tỉnh và 3 hội người khuyết tật cấp huyện trực tiếp được hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý, xây dựng tổ chức và tham gia các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật.

e. Bài học kinh nghiệm

- Giáo dục hòa nhập không chỉ đơn thuần là việc điều chỉnh mà cần phải có sự đổi mới:
- Hỗ trợ tổng thể đảm bảo tối ưu kết quả hỗ trợ trẻ khuyết tật
- Chuyển giao bậc học quan trọng trong việc tạo cơ hội cho trẻ khuyết tật học các bậc học cao hơn.
- Tầm quan trọng của việc trao đổi bồi dưỡng chuyên môn tại chỗ sau đào tạo/tập huấn
- Ứng dụng CNTT là một giải pháp mới trong việc nâng cao chất lượng và cơ hội học tập của trẻ
- Vai trò quan trọng của gia đình, cộng đồng, mạng lưới và doanh nghiệp
- Tầm quan trọng của các cấp chính quyền, các ban ngành tham gia triển khai và quản lý dự án nhằm đảm bảo tính bền vững các ý tưởng dự án.

Kết luận

Với trên 15 năm kinh nghiệm triển khai công tác hỗ trợ hòa nhập người khuyết tật Việt Nam, đặc biệt trong công tác giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật, tổ chức CRS tự hào được hợp tác với nhiều đối tác từ cấp trung ương đến địa phương, với giáo viên, nhà trường, gia đình và chính người khuyết tật cùng với sự cam kết, trách nhiệm và lòng nhiệt huyết. Những kết quả đạt được cũng chính nhờ từ các mối quan hệ hợp tác này.

Nhiều trẻ khuyết tật đã có cơ hội đi học, nhiều gia đình đã lấy lại niềm tin vào khả năng của con em mình và có thêm các kiến thức kỹ năng cần thiết để chăm sóc hỗ trợ các em. Tuy vậy cũng còn rất nhiều trẻ khuyết tật chưa được đi học, nhiều gia đình còn chưa có nhận thức đúng đắn về quyền được đi học của trẻ, nhiều thanh niên khuyết tật chưa có việc làm. Tổ chức CRS với mục tiêu mang lại sự bình đẳng về cơ hội cho các em sẽ tiếp tục đồng hành với các đối tác để tìm ra nhiều sáng kiến mới trong việc giáo dục và hòa nhập trẻ. Những kinh nghiệm thực tiễn đã được đánh giá, ghi nhận và nhân rộng cũng chính là động lực để CRS tiếp tục hành trình của mình trong thời gian tới.

Tài liệu tham khảo

Báo cáo đánh giá dự án cuối kỳ (2015). Tổ chức Catholic Relief Services.

Báo cáo đánh giá kết quả thí điểm ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ khuyết tật (2015). Tổ chức Catholic Relief Services.

Catholic Relief Services (2007). How – to Guide: Inclusive education of children with disabilities.

Elweke, C. J. and M. Rodda (2002) “The challenge of enhancing inclusive education in developing countries,” International Journal of Inclusive Education 6(2): 113-26.

Friend, M. and W. D. Bursuck (2002). Including Students with Special Needs: A Practical Guide for Classroom Teachers. Third Edition.

Lombardi, T. P. and N. J. Hunka (2001). "Preparing General Education Teachers for Inclusive Classrooms: Assessing the Process." Teacher Education and Special Education 24(3): 183-97.

Nguyet, Dinh and Ha.L.Thu (2010). How - to Guide: Preparing teachers for inclusive education. Catholic Relief Services.

Peters, S.J. (2004) Inclusive Education: An EFA Strategy for All Children. Washington DC: World Bank. 
 
Tin bài khác