Sách - Ấn phẩm
Hai mươi năm một chặng đường
03/10/2016 09:59
Bùi Thị Thủy
Trung tâm Bảo trợ xã hội Khánh Hòa
 
Tóm tắt: Tác giả bài viết nhìn lại bối cảnh chặng đường 20 năm giáo dục người khuyết tật vừa qua ở Việt Nam. Đặc biệt, hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ khuyết tật tại Trung tâm Bảo trợ xã hội Khánh Hòa, nơi tác giả công tác, được mô tả và phản ánh. Từ thực tiễn đó, các giải pháp thúc đẩy công tác giáo dục trẻ khuyết tật được nêu ra.

Trợ giúp các đối tượng yếu thế nói chung, người khuyết tật (NKT) nói riêng, vốn là truyền thống văn hóa và lòng nhân ái của dân tộc Việt Nam. Từ ngàn xưa phương ngôn Việt Nam có câu “Thương người như thể thương thân”. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 ghi rõ “ Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật được học văn hóa và học nghề phù hợp...Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và Xã hội trợ giúp”. Trong tất cả các vấn đề trợ giúp cho người khuyết tật thì việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em bao gồm trẻ khuyết tật là một trong những mối quan tâm của Đảng, Nhà nước và xã hội ta được thể hiện rất rõ tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 42/2013/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BTC ngày 31/12/2013 của Liên Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, và Bộ Tài chính ban hành Quy định chính sách về giáo dục đối với người khuyết tật và Điều 27 Luật người khuyết tật năm 2010.

Hai mươi năm qua, giáo dục cho người khuyết tật Việt Nam đã đạt được những thành quả đáng ghi nhận. Nhiều chính sách ưu đãi trong giáo dục dành người khuyết tật được ban hành, người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật tiếp cận được thuận lợi đến giáo dục, họ được trang bị kiến thức, kỹ năng sống, kỹ năng nghề, được tạo công ăn việc làm, tạo nhiều cơ hội thể hiện bản thân, lao động và hòa nhập, giảm bớt gánh nặng cho gia đình và xã hội. Không ít những người khuyết đã rất thành công trong nhiều lĩnh vực của đời sống. Điều này, chứng tỏ người khuyết tật “Tàn nhưng không phế” chỉ cần xã hội tạo điều kiện, can thiệp trợ giúp kịp thời và đặt họ vào những vị trí đúng khả năng vượt trội mà họ có, sẽ tận dụng được nguồn nhân lực xã hội.

Nhân dịp Viện Khoa học Giáo dục trẻ khuyết tật Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học “20 năm giáo dục trẻ khuyết tật Việt Nam”, với sự cho phép của Ban tổ chức Hội thảo, chúng tôi xin tham luận một vài nét về thực trạng giáo dục trẻ khuyết tật tại Khánh Hòa cùng một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ khuyết tật theo tinh thần của Luật Người khuyết tật 2010.

Theo số liệu thống kê hiện nay Việt Nam có khoảng 1,2 triệu trẻ khuyết tật (chiếm 1,18% dân số), lượng trẻ khuyết tật đi học chỉ chiếm 24,22%, có khoảng 700.000 trẻ khuyết tật chưa từng được đến trường. Tại tỉnh Khánh Hòa có 1.751 trẻ khuyết tật dưới 16 tuổi, trong đó chỉ có 793 trẻ được hỗ trợ tham gia giáo dục và học nghề. Còn khoảng gần 1.000 trẻ khuyết tật chưa được can thiệp, hỗ trợ. (Chưa kể đến đối tượng là trẻ tự kỷ chưa được phát hiện). Như vậy, nhu cầu được đến lớp của trẻ khuyết tật tại tỉnh Khánh Hòa là rất lớn.

Từ năm 2010, khi Luật người khuyết tật ra đời và có hiêụ lực ngày 01 tháng 01 năm 2011, với những cố gắng đáng kể của các chuyên gia Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục của Bộ Giáo dục và đào tạo, công tác giáo dục chuyên biệt và giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật đã được tiến hành hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước. Tại Khánh Hòa, Sở Giáo dục và Đào tạo đã bố trí chuyên viên chuyên về giáo dục khuyết tật cùng sự chỉ đạo sát sao của các cấp chính quyền về hỗ trợ giáo dục cho người khuyết tật nên công tác giáo dục cho người khuyết tật, nhất là trẻ em khuyết tật đã đạt được những kết quả khả quan:

Nhận thức của lãnh đạo các cấp, các ban ngành đoàn thể xã hội và nhân dân, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về giáo dục chuyên biệt và hoà nhập trẻ khuyết tật được xác định cụ thể và nâng cao rõ rệt. Từ sự nâng cao về nhận thức tỉnh đã đề ra nhiều biện pháp và việc làm thiết thực cho TKT. Tỷ lệ TKT tới lớp ngày càng tăng, chất lượng được nâng cao rõ rệt.

Nhận thức của cộng đồng xã hội về khả năng, nhu cầu của trẻ khuyết tật và gia đình trẻ được nâng cao. Gia đình và trẻ khuyết tật được cộng đồng chấp nhận, đặc biệt đối với những hộ nghèo được hỗ trợ cải thiện kinh tế gia đình bằng nhiều hoạt động khác nhau. 
Giáo dục chuyên biệt và hoà nhập được tăng nhanh hàng năm cả về qui mô và chất lượng. Hiện tại, đã có 793 trẻ em khuyết tật ra lớp học từ cấp học mầm non đến trung học cơ sở. Giáo viên được tiếp cận với phương pháp dạy học mới. Từ đó, chủ động hơn trong việc lực chọn phương pháp dạy cũng như thay đổi không gian lớp học nhằm tạo hứng thú cho trẻ qua mỗi bài dạy, hiệu quả giờ học được nâng lên và sát thực hơn. Nhiều trẻ khuyết tật đã có những thành công trong học tập và tham gia tích cực vào các hoạt động.

Bên cạnh những thành tựu trên, công tác can thiệp sớm và giáo dục chuyên biệt và hòa nhập ở Khánh Hòa còn bộc lộ những hạn chế, khó khăn như:

1. Số lượng trẻ khuyết tật đi học còn ở mức hạn chế: Hiện tại còn khoảng gần 1.000 trẻ khuyết tật chưa được phát hiện và tiếp cận giáo dục (chiếm 54,7% tổng số trẻ khuyết tật của tỉnh). Số trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt cao (khuyết tật vừa và nhẹ) chưa được quan tâm, chăm sóc giáo dục đúng mức. Những huyện, nơi chưa có các Trung tâm dạy trẻ chuyên biệt và những xã vùng sâu, vùng xa, hầu như trẻ khuyết tật chưa có cơ hội đến trường.
 
2. Chất lượng giáo dục, can thiệp, hoà nhập còn ở mức hạn chế, đặc biệt nhiều trẻ khuyết tật chưa được tiếp tục học lên cấp học cao hơn trung học cơ sở, một số em phải vào thành phố Hồ Chí Minh để theo học các lớp trên THCS tại các Trường chuyên biệt. Những nơi chưa có điều kiện tham gia các lớp tập huấn của dự án chất lượng dạy học hòa nhập còn ở mức rất khiêm tốn.

3. Nhiều học sinh khuyết tật lớn tuổi chưa được tiếp tục học nghề và tìm kiếm các cơ hội để có việc làm. Điều đó làm giảm ý chí và nhu cầu cần được giáo dục của trẻ khuyết tật.

Nguyên nhân của những hạn chế trên là:

Thiếu hệ thống tham mưu của cơ quan chuyên môn và chính quyền các cấp trong định hướng xây dựng, phát triển công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em khuyết tật. Đặc biệt trong việc giám sát, kiểm tra, đánh giá, đôn đốc việc thực hiện can thiệp sớm và giáo dục hoà nhập.

Thiếu cán bộ hỗ trợ tư vấn chuyên môn cho các lực lượng tham gia giáo dục trẻ khuyết tật. Do vậy, nhiều trẻ khuyết tật chưa được phát hiện và can thiệp kịp thời để có thể đi học tiểu học hòa nhập đúng độ tuổi; giáo viên mầm non, tiểu học và trung học cơ sở trực tiếp dạy trẻ khuyết tật chưa được tập huấn cơ bản về giáo dục hoà nhập, được hỗ trợ, tư vấn khi gặp khó khăn. Phụ huynh học sinh trẻ khuyết tật cũng chưa được hỗ trợ kịp thời nên chưa tạo cơ hội cho trẻ khuyết tật phát triển khả năng, tiềm năng của bản thân.
                       
Cả tỉnh tính đến thời điểm hiện nay, chỉ có khoảng 03 cở sở giáo dục chuyên biệt công lập và một cơ sở tư nhân tôn giáo cùng một số lớp xen kẽ lồng ghép vừa dạy mầm non vừa can thiệp khuyết tật, mà chủ yếu là trẻ tự kỷ.
                
Ngân sách tỉnh chưa đáp ứng nhu cầu cho công tác can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
                  
Trung tâm Bảo trợ xã hội Khánh Hòa là một trong những cơ sở có dạy chuyên biệt cho trẻ khuyết tật tỉnh Khánh Hòa. Mặc dù đã đưa vào hoạt động từ năm 2003 nhưng cho đến nay trang thiết bị còn hết sức thiếu thốn: thiếu sách, thiếu tài liệu chữ nổi dành cho học sinh khiếm thị, thiếu đồ dùng đặc thù, máy móc, dụng cụ hỗ trợ trong dạy học cùng bàn ghế chưa đúng qui cách, cơ sở vật chất do năm tháng sử dụng đã xuống cấp nghiêm trọng. Bên cạnh đó đội ngũ cán bộ, giáo viên còn chưa đủ đáp ứng về đào tạo chuyên biệt, chưa phù hợp với quy định về số lượng học sinh trên một giáo viên (tối đa là 11 học sinh và tối thiểu là 4 học sinh). Tại Trung tâm, mỗi giáo viên phải đứng 1 đến 2 lớp. Dạy cả ngày nên không đủ thời gian nghiên cứu tài liệu và đầu tư vào bài dạy một cách  hiệu quả và chất lượng.

Còn một rào cản không nhỏ mang tính quyết định cho việc hỗ trợ giáo dục trẻ khuyết tật. Đó là, qui định tiêu chuẩn tiếp nhận vào nuôi dạy tại cơ sở bảo trợ theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng xã hội và Luật Người khuyết tật, việc tiếp nhận những trẻ khuyết tật phải từ mức độ khuyết tật nặng và đặc biệt nặng. Vì vậy, đa số các trẻ em khuyết tật nhẹ và nặng  không tiếp cận được sự hỗ trợ giáo dục và có cơ hội được can thiệp sớm.
                  
Trên thực tế, những gia đình có người khuyết tật thường có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, hộ nghèo... việc cho con em họ đến lớp học theo các dạng xã hội hóa giáo dục là điều không thể. Và vô hình chung, xã hội thêm những gánh nặng từ những người khuyết tật do không được hỗ trợ học tập và học nghề để sống hòa nhập và phát triển.
                  
Hơn thế nữa, tỉnh Khánh Hòa hiện nay chưa có Trung tâm Hỗ trợ và Phát triển Giáo dục Hòa nhập cho trẻ khuyết tật. Vì vậy, nhiều trẻ khuyết tật chưa được sự hỗ trợ tích cực, nhiều học sinh khiếm thị hoàn thành chương trình Tiểu học tại Trung tâm Bảo trợ xã hội phải vô thành phố Hồ Chí Minh mới có trường để học. Những học sinh khiếm thính thì tội nghiệp hơn, sau khi các em học xong Tiểu học muốn ra ngoài để tiếp tục học tập lên cấp hai, cấp ba thì lại không có thầy cô chuyên biệt hỗ trợ cho giáo viên phổ thông. Và với số kiến thức ít ỏi các em đã có được, giờ không biết làm gì để hòa nhập, lao động nuôi sống bản thân nên tiếp tục trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Định hướng chung trong toàn ngành giáo dục: có kế hoạch phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật theo quan điểm “Trường học cho mọi trẻ em”, đồng thời thực hiện quan điểm, mục tiêu giáo dục trẻ khuyết tật mà nhà nước đã đặt ra, tạo điều kiện cho trẻ khuyết tật được học lên các lớp trên và được học nghề. Với các mục tiêu cụ thể.

Đảm bảo cho trẻ khuyết tật hưởng những quyền giáo dục cơ bản, quyền tự do không tách biệt, tham gia vào hoạt động xã hội và có cơ hội cống hiến.

Phát triển toàn diện các mặt cho trẻ khuyết tật, bao gồm: Đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và khả năng lao động; phát triển kiến thức, kĩ năng văn hóa xã hội, thái độ tích cực, tạo điều kiện hòa nhập cộng đồng khi trẻ 18 tuổi.
Trẻ khuyết tật có cơ hội hòa nhập vào môi trường giáo dục bình thường, phát triển hài hòa và tối đa những khả năng còn lại để hình thành và phát triển nhân cách.

Muốn đưa công cuộc giáo dục trẻ khuyết tật của tỉnh nhà đi vào chiều sâu và hiệu quả, đảm bảo đúng  tinh thần của luật người khuyết tật, chúng tôi kiến nghị thực hiện một số giải pháp cụ thể:

1. Công tác tổ chức và cơ chế chính sách

a) Tiếp tục củng cố ban chỉ đạo thực hiện Kế hoạch trợ giúp TKT cấp tỉnh và ban điều hành các huyện, thị xã và thành phố đảm bảo sự phối hợp giữa các ngành, đồng thời tăng cường công tác hướng dẫn, giám sát và đánh giá việc triển khai thực hiện ở cơ sở.

b) Củng cố mạng lưới cộng tác viên làm công tác quản lý trường hợp, tham vấn cộng đồng tại xã, phường, thị trấn. Huy động nguồn lực và kinh phí để tập huấn công tác xã hội với TKT; hỗ trợ duy trì mạng lưới cộng tác viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.

c) Ban hành, bổ sung, điều chỉnh các quy định về chế độ bồi dưỡng cho giáo viên dạy hòa nhập, ưu tiên tăng định biên cho các trường có dạy hòa nhập và chuyên biệt; chế độ đãi ngộ cho các cơ sở dạy nghề và các cơ sở sản xuất tư nhân có nhận dạy nghề cho TKT; quy định về chế độ hỗ trợ cho TKT được tham gia học nghề; quy chế dạy nghề linh hoạt đối với TKT (quy trình, thời gian đào tạo

d) Xem xét và quan tâm thành lập Trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập cấp tỉnh.

2. Tiếp tục hoàn thiện và quản lý tốt số liệu về trẻ em khuyết tật

a) Tiếp tục khảo sát điều tra bổ sung TKT nhẹ, thu thập và hoàn chỉnh danh sách để thực hiện chính sách và các hoạt động trợ giúp TKT về giáo dục, y tế: phẫu thuật và phục hồi chức năng, đào tạo, dạy nghề, việc làm, an sinh xã hội cho TKT.

b) Lập danh sách và cập nhật TKT 06 tháng một lần để quản lý, nhất là TKT trong các gia đình nghèo và đặc biệt khó khăn để có kế hoạch hỗ trợ cụ thể cho từng trẻ.

c) Hoàn chỉnh, nâng cấp phần mềm quản lý TKT chung của tỉnh, của cấp huyện và cấp xã; thực hiện việc theo dõi, quản lý TKT tại trạm y tế các xã/phường/thị trấn và chia sẻ thông tin với các ngành liên quan.

3. Nâng cao năng lực

a) Hội nghị, hội thảo

- Tổ chức hội thảo nhân rộng các mô hình trợ giúp TKT có hiệu quả.

b) Đào tạo, tập huấn

- Tập huấn về phát hiện sớm khuyết tật ở trẻ em, kỹ năng chăm sóc sức khỏe dinh dưỡng, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng và tại gia đình cho người chăm sóc TKT;
- Tập huấn kỹ năng cơ bản về giáo dục TKT cho giáo viên các lớp có TKT học hòa nhập;
- Tập huấn kỹ năng quản lý về giáo dục đặc biệt và hòa nhập cho giáo viên tiểu học cốt cán;
- Tập huấn kỹ năng quản lý về giáo dục đặc biệt và hòa nhập cho cán bộ quản lý;
- Tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên dạy nghề về phương pháp đào tạo nghề cho TKT;
- Tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm trong nước và ngoài nước cho cán bộ tham gia thực hiện kế hoạch, nhóm làm việc đa ngành về kinh nghiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục TKT.

4. Nâng cao truyền thông

a) Truyền thông gián tiếp

- Thực hiện các tin và phóng sự chuyên đề về TKT, phát trên sóng truyền hình Đài Phát thanh - Truyền hình Khánh Hòa, trên chuyên mục “Vì trẻ em” và “Sức khoẻ môi trường”;
- Cung cấp tờ rơi, sách mỏng tuyên truyền về kỹ năng chăm sóc, phát hiện, can thiệp sớm và phục hồi chức năng; phòng, chống tai nạn thương tích; nước sạch, vệ sinh môi trường… cho TKT để cấp phát cho TKT, gia đình và cộng đồng.

b) Truyền thông trực tiếp

- Truyền thông nhóm, tư vấn: Nhằm nâng cao nhận thức của hộ gia đình, cộng đồng về phát hiện, điều trị sớm và phục hồi chức năng cho TKT
- Tổ chức các sự kiện và các hoạt động có sự tham gia của TKT và gia đình:
Tổ chức diễn đàn TKT với chủ đề “Lắng nghe TKT chia sẻ” giúp cho lãnh đạo các cấp, các ngành có giải pháp thực hiện tốt hơn kế hoạch trợ giúp và công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục TKT.

5. Các hoạt động hòa nhập cho TKT

a) Hoạt động Văn hóa, thể thao: Sửa chữa và nâng cấp và xây dựng các sân chơi phù hợp cho trẻ em và TKT tạo điều kiện cho TKT tham gia vui chơi, giao lưu nâng cao sức khỏe để hòa nhập cộng đồng;

b) Tổ chức diễn đàn để nghe TKT và gia đình có TKT chia sẻ tâm tư, nguyện vọng của mình để các ngành, các cấp quan tâm giúp đỡ.

6. Hỗ trợ chính sách cho TKT

a) Hỗ trợ về y tế

- Tổ chức khám cho TKT nhằm đánh giá, phân loại dạng tật và mức độ khuyết tật cho TKT trên địa bàn tỉnh để có chỉ định can thiệp và lập kế hoạch theo dõi, phục hồi chức năng;
- Cung cấp cho gia đình có TKT có nhu cầu sử dụng những dụng cụ phục vụ, hỗ trợ ăn uống;

b) Hỗ trợ về giáo dục

- Thực hiện tốt chế độ chính sách đối với cán bộ giáo viên chăm sóc, giáo dục TKT học hòa nhập;
- Nâng cao năng lực cho các cơ sở bảo trợ xã hội nuôi dạy TKT của tỉnh; trợ giúp choTrung tâm thực hiện tốt việc kết nối giữa học nghề với việc làm tại các doanh nghiệp; tiếp tục xây dựng mạng lưới chỉ đạo cấp tỉnh và mạng lưới chuyên môn nghiệp vụ tại một huyện thí điểm;
- Đẩy mạnh hoạt động của các Trung tâm giáo dục chuyên biệt tại tỉnh Khánh Hòa;
- Xây dựng phòng hỗ trợ cho TKT tại các trường tiểu học có nhiều TKT học hòa nhập của các huyện. Cung cấp trang thiết bị cho các phòng hỗ trợ này;
- Hỗ trợ các điều kiện vật chất (học bổng, phương tiện đi lại, quần áo, sách vở, dụng cụ học tập...) cho TKT trong các gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

c) Hỗ trợ về dạy nghề và việc làm

- Hỗ trợ một số trường, trung tâm dạy nghề trong tỉnh tiếp tục xây dựng, hoàn chỉnh chương trình đào tạo nghề phù hợp với năng lực của TKT;
- Cung cấp trang thiết bị đào tạo chuyên sâu và phù hợp với các ngành nghề dành cho TKT tại các cơ sở dạy nghề có nhận đào tạo cho TKT;
- Tư vấn nghề cho TKT trong độ tuổi lao động và có khả năng học nghề để các em lựa chọn nghề phù hợp với tình trạng khuyết tật và sức khoẻ;
- Tổ chức dạy nghề cho TKT được tư vấn;
- Giới thiệu việc làm cho TKT đã được đào tạo tại các cơ sở dạy nghề.

d) Hỗ trợ xây dựng, duy trì hoạt động các trung tâm, cơ sở nuôi TKT bán trú

- Huy động các nguồn lực nhằm tạo kinh phí để duy trì hoạt động của các trung tâm chăm sóc ban ngày cho TKT;
- Tăng tỷ lệ TKT đặc biệt được hỗ trợ các dịch vụ tại các Trung tâm chăm sóc TKT và ở cộng đồng;

e) Tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi, phát triển tài năng cho TKT nhân ngày lễ NKT Việt Nam (18/4);

7. Tiếp tục khảo sát, điều tra TKT nhẹ và bổ sung danh sách TKT nặng, đặc biệt nặng mới phát sinh

8. Huy động nguồn lực


a) Về kinh phí

- Thực hiện việc huy động nguồn lực trợ giúp TKT, bằng các nguồn sau:

+ Ngân sách Nhà nước (gồm: Ngân sách trung ương, tỉnh, huyện, xã).
+ Lồng ghép với các chính sách, chương trình khác;
+ Huy động từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;
+ Duy trì và mở rộng quan hệ với các tổ chức trong khu vực và trên thế giới trong các hoạt động trợ giúp trẻ em và trợ giúp TKT;
+ Tổ chức hội thảo kêu gọi hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho TKT;
+ Tổ chức các sự kiện nhân ngày lễ, tết để kêu gọi tài trợ của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân ủng hộ quỹ bảo trợ trẻ em của tỉnh;
+ Huy động nguồn vốn hiện có của gia đình, thân nhân của TKT.

b) Về nhân lực

Huy động sự tham gia tích cực của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể từ cấp tỉnh đến huyện, xã, của cộng đồng dân cư, của các tổ chức từ thiện xã hội trong và ngoài nước, gia đình thân nhân của TKT.

Trên đây là một số những chia sẻ về thực trạng hỗ trợ giáo dục, học nghề của trẻ khuyết tật tại Khánh Hòa, cùng một số giải pháp để góp phần thực hiện thành công giáo dục khuyết tật trong toàn quốc trong những năm tiếp theo.
 
Tin bài khác