Sách - Ấn phẩm
Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật và trẻ có hoàn cảnh khó khăn - Mô tả 2 trường tiểu học hòa nhập
03/10/2016 09:38
Nhóm nghiên cứu[1] hợp tác với UNESCO Bangkok
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
 
Tóm tắt: Giáo dục hòa nhập (GDHN) là một phương thức giáo dục tạo cơ hội cho tất cả trẻ em tiếp cận giáo dục có chất lượng đáp ứng được nhu cầu học tập cơ bản. Trường hòa nhập sẽ “tiếp nhận tất cả trẻ em không phân biệt thể chất, trí tuệ, cảm xúc, xã hội, ngôn ngữ và những điều kiện khác” (Điều 3, Khung hành động Salamanca, 1994).Ở Việt Nam, GDHN được coi là xu thế chủ yếu và phù hợp nhất dành cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn bao gồm cả trẻ khuyết tật (Bộ GD&ĐT). Hơn hai thập kỉ thực hiện GDHN ở Việt Nam, phương thức giáo dục này đã đạt được những thành tựu đáng kể minh chứng cho sự hiệu quả và khả thi trong thực tiễn. Bài viết mô tả vắn tắt 2 trường hợp nghiên cứu về trường phổ thông hòa nhập có hiệu quả trong khuôn khổ nghiên cứu hợp tác giữa Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và tổ chức UNESCO Bangkok.

1. Đặt vấn đề

“... Hệ thống giáo dục hòa nhập là phải chủ động tìm kiếm trẻ chưa được đi học và đáp ứng linh hoạt tới mọi hoàn cảnh và nhu cầu của tất cả người học...” (Khung hành động Dakar, 2000). Tất cả các hiệp định và công ước về quyền con người quốc tế đều thống nhất rằng tạo cơ hội học tập cho tất cả người học là rất cần thiết. Điều này không chỉ là đưa học sinh vào các trường hòa nhập sẵn có, mà còn là chủ động nhận biết các rào cản và trở ngại đối với học sinh trong việc tiếp cận những cơ hội giáo dục có chất lượng, cũng như xóa bỏ những trở ngại và rào cản này. Giáo dục hòa nhập (GDHN) là một phương thức chiến lược tạo cơ hội cho tất cả trẻ em tiếp cận giáo dục có chất lượng đáp ứng được nhu cầu học tập cơ bản. Trường hòa nhập sẽ “tiếp nhận tất cả trẻ em không phân biệt thể chất, trí tuệ, cảm xúc, xã hội, ngôn ngữ và những điều kiện khác” (Điều 3, Khung hành động Salamanca, 1994).

Ở Việt Nam, GDHN được lấy làm phương thức chủ yếu và phù hợp nhất dành cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn bao gồm cả trẻ khuyết tật (Bộ GD&ĐT). Hơn hai thập kỉ thực hiện GDHN ở Việt Nam, phương thức giáo dục này đã đạt được những thành tựu đáng kể minh chứng cho sự hiệu quả và khả thi trong thực tiễn. Đặc biệt, phương thức này đã đảm bảo được việc thực hiện 4 trụ cột giáo dục của UNESCO, làm thay đổi nhận thức của các lực lượng xã hội về khả năng học tập của trẻ có hoàn cảnh khó khăn, phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước và là một phương thức tiếp cận giáo dục có hiệu quả cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn.

Thuật ngữ “trẻ có hoàn cảnh khó khăn” được sử dụng trong bài viết này tương đương với thuật ngữ “trẻ có hoàn cảnh đặc biệt” theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2005. Bao gồm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật.

2. Nghiên cứu hợp tác với UNESCO Bangkok về trường phổ thông hòa nhập hiệu quả tại Việt Nam – Mô tả 2 trường tiểu học hòa nhập

Từ tháng 4/2015 đến tháng 8/2015, nhóm nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Đặc biệt – Viện KHGDVN đã phối hợp với UNESCO Bangkok thực hiện “Nghiên cứu điển hình về 2 trường phổ thông hòa nhập có hiệu quả tại Việt Nam”. Bản báo cáo đã đưa ra những phân tích về các chính sách GDHN hiện hành của Việt Nam và kết quả nghiên cứu 2 trường hợp về trường phổ thông hòa nhập có hiệu quả theo các tiêu chí của UNESCO.

UNESCO đã đưa ra một sơ đồ hóa những yếu tố của môi trường thân thiện, hòa nhập theo tinh thần Giáo dục cho mọi người và Khung hành động Salamanca.
 
Nguồn: UNESCO, 2004
 
Hai trường tiểu học được lựa chọn là trường tiểu học Phan Bội Châu, huyện Cư  Mgar, tỉnh Đắk Lắk và trường tiểu học Hồ Thị Kỷ, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Dưới đây là những nét chính đánh giá về sự thành công trong GDHN của hai trường.

* Trường tiểu học Phan Bội Châu

Trường tiểu học Phan Bội Châu nằm trên địa bàn thôn Tân Phú, xã Ea Drơng, huyện Cư Mgar, tỉnh Đắk Lắk. Huyện Cư Mgar cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 18km về hướng Đông Bắc. Cư Mgar có 17 đơn vị hành chính (15 xã và 2 thị trấn), xã xa nhất cách trung tâm huyện 40 km. Huyện có 179 thôn với 71 thôn là đồng bao dân tộc thiểu số tại địa phương. Kinh tế của tỉnh chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Cây công nghiệp (cà phê, cây cao su...) và cây ăn quả đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế địa phương. Tỷ lệ hộ gia đình có mức thu nhập thấp và trung bình cao hơn so với các tỉnh khác.

Năm học 2014-2015, trường tiểu học Phan Bội Châu có 813 học sinh chia thành 27 lớp với 332 học sinh là người dân tộc thiểu số (bao gồm Ê-đê, Thái, Tày, Thổ, Mường, Cao Lan), còn lại là học sinh người dân tộc Kinh. Trường cũng có 7 học sinh khuyết tật đang học hòa nhập. Trường có 57 cán bộ, giáo viên, công nhân viên, trong đó Ban giám hiệu gồm 1 hiệu trưởng và 2 hiệu phó.

Trường tiểu học Phan Bội Châu nằm trên địa bàn có 7 dân tộc thiểu số cùng sinh sống. Rào cản đầu tiên trong học tập được nhắc đến là vấn đề về ngôn ngữ. Đặc biệt, đối với trẻ vào lớp 1, trẻ gặp khó khăn trong giao tiếp với giáo viên và bạn bè đồng trang lứa. Một số dân tộc thiểu số như dân tộc Ê-đê có ngôn ngữ nói và chữ viết riêng. Giáo dục thì không được cung cấp bằng tiếng mẹ đẻ. Học sinh dân tộc thiểu số thường cần nhiều thời gian hơn để học đọc và viết tiếng Việt hơn học sinh dân tộc Kinh. Vì vậy trẻ thường không thích đi học và khó theo kịp chương trình học.

Một rào cản khác đối với việc đi học là thiếu sự quan tâm của phụ huynh đến giáo dục con em mình. Những gia đình này thường nghèo và đông con; đôi khi không muốn cho con đi học mà muốn cho con đi làm để kiếm them thu nhập. Phụ huynh ít có thời gian chăm sóc và hỗ trợ trẻ trong việc học. Thậm chí họ còn quên các cuộc họp phụ huynh định kì (thường được tổ chức 3 lần/ năm học). Cũng có khi do điều kiện kinh tế khó khăn, các gia đình không thể chi trả chi phí học tập của con em mình.

Trong một vài trường hợp, gia đình buông lỏng nề nếp với con em mình. Gia đình không có biện pháp hoặc yêu cầu trẻ đi học khi chúng chán học hoặc bỏ học. Họ coi vấn đề đó là sự lựa chọn của con em mình. Khoảng cách địa lý từ nhà đến trường cũng là một rào cản ảnh hưởng đến việc đi học và học tập của trẻ. Đó có thể là gia đình không có thời gian để đưa trẻ đi học vì công việc rất vất vả, có thể là đường đi lại xa và khó khăn mất rất nhiều thời gian và đôi khi là đường xá rất nguy hiểm.

Những tiếp cận và chính sách để duy trì hiệu quả giáo dục hòa nhập

Sử dụng tiếng mẹ đẻ trong dạy học

Những học sinh dân tộc thiểu số gặp khó khăn trong giao tiếp và học bằng tiếng Việt. Vì vậy, tất cả các giáo viên dạy lớp 1 đều phải biết ít nhất một ngôn ngữ dân tộc thiểu số để có thể giao tiếp với học sinh người dân tộc. Khi đó học sinh sẽ tự tin hơn trong giao tiếp và thực hiện được các nhiệm vụ học tập. Giáo viên có thể giảng giải bài học bằng tiếng mẹ đẻ của trẻ và dạy học sinh từ tiếng Việt tương ứng.

Sử dụng đồ dùng dạy học là vật thật

Trong dạy học, giáo viên luôn chú ý sử dụng đồ dung học tập là vật thật, mô hình làm đồ dùng trực quan để giúp học sinh hiểu bài rõ hơn và hiệu quả hơn. Phương pháp này làm bài học trở nên sinh động và học sinh sẽ hứng thú hơn với các bài học.

Xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân

Kế hoạch giáo dục cá nhân là một kế hoạch các hoạt động giáo dục nhằm giúp học sinh đạt được những mục tiêu được đề ra. Vì vậy, nhà trường đã xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho từng học sinh khuyết tật. Việc đánh giá kết quả giáo dục cũng dựa trên mục tiêu trong bản kế hoạch cá nhân và sự tiến bộ của học sinh.

Bản kế hoạch giáo dục cá nhân phải bao gồm mục tiêu, nội dung, phương pháp, thời gian, người thực hiện và lượng giá kết quả mong đợi. Nhóm thiết kế bản kế hoạch giáo dục cá nhân bao gồm ban giám hiệu nhà trường, giáo viên trực tiếp dạy trẻ khuyết tật, phụ huynh, giáo viên đến từ trung tâm nguồn và trẻ khuyết tật. Những mục tiêu mong đợi sẽ được đánh giá lại sau mỗi học kì và rất cần thiết được điều chỉnh và bổ sung cho những hoạt động tiếp theo của kế hoạch.

Sử dụng giáo viên là người dân tộc thiểu số

Giáo viên là người dân tộc thiểu số là nguồn nhân lực quý giá cho giáo dục ở vùng sâu vùng xa. Họ biết tiếng dân tộc và hiểu tâm sinh lý của học sinh dân tộc. Phụ huynh và học sinh có thể cảm thấy thân quen với những giáo viên này ngay lần gặp đầu tiên. Học sinh thường coi những giáo viên này là tấm gương thành công trong cuộc sống.

Miễn giảm học phí

Theo chính sách của Nhà nước, trẻ có hoàn cảnh khó khăn như trẻ dân tộc thiểu số, trẻ thuộc hộ gia đình nghèo sẽ được miễn giảm học phí và phí trường lớp. Ngoài ra, trẻ có hoàn cảnh khó khăn có thể được nhận trợ cấp theo quy định.

Ngoài ra, nhà trường còn hợp tác với Trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tỉnh Đắk Lắk. Đây là trung tâm hỗ trợ phát triển GDHN có nhiệm vụ hỗ trợ trẻ khuyết tật đi học hòa nhập. Giáo viên từ Trung tâm thường xuyên đến trường để hỗ trợ giáo viên và học sinh trong dạy và học. Tùy theo năng lực và khó khăn của trẻ, giáo viên từ Trung tâm sẽ có những hướng dẫn chi tiết và cụ thể cho giáo viên và những người khác để hỗ trợ trẻ tại trường. Giáo viên từ Trung tâm cũng là thành viên chủ chốt trong nhóm xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ khuyết tật. Họ cũng đến nhà của trẻ để hướng dẫn phụ huynh và các thành viên trong gia đình hỗ trợ trẻ trong học tập và các hoạt động hàng ngày.

Chi là một bé gái rất dễ thương. Đến năm 1,5 tuổi, em mới biết đi. Em cũng biết nói chậm hơn nhiều so với các bạn cùng tuổi. Hiện nay, Chi 12 tuổi và đang học lớp 2, trường tiểu học Phan Bội Châu. Mặc dù vốn từ và kĩ năng học tập của em còn yếu, nhưng em là một cô bé ngoan. Em có thể giúp mẹ làm những việc nhà đơn giản. Em thích chơi game với anh trai khi anh trai từ trường cao đẳng về thăm nhà. Trong ảnh, Chi đang mời nước cô giáo đến từ Trung tâm hỗ trợ phát triển GDHN tỉnh Đắk Lắk.

Giáo viên đến từ Trung tâm Đắk Lắk đã hỗ trợ gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc và giáo dục Chi được 3 năm kể từ khi Chi đi học lớp 1 ở trường tiểu học Phan Bội Châu. Cùng với giáo viên dạy hòa nhập, đã dạy Chi đọc và viết những chữ cái đầu tiên. Giáo viên từ Trung tâm đã tư vấn cho giáo viên hòa nhập những kĩ năng đặc thù để dạy học sinh khuyết tật trí tuệ. Ngoài ra, còn định kỳ đến thăm nhà Chi để hướng dẫn gia đình hỗ trợ Chi trong học tập và các hoạt động hàng ngày. Cô mong không chỉ cung cấp cho Chi những kĩ năng học tập mà còn cả kĩ năng sống để giúp em trưởng thành và sống tự lập.


* Trường tiểu học Hồ Thị Kỷ

Trường tiểu học Hồ Thị Kỷ đặt tại địa chỉ 105 đường Hồ Thị Kỷ, Phường 1, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Quận 10 là một trong số các quận nội thành của TP HCM, là nơi có nhiều bệnh viện lớn cũng như các trường đại học, cao đẳng của thành phố. Quận 10 nằm tại vị trí trung tâm thành phố với nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thương mại và dịch vụ. Trường tiểu học Hồ Thị Kỷ đặt trên địa bàn Phường 1. Phường có nhiều hoạt động kinh tế ở những lĩnh vực khác nhau. Vì vậy, điều kiện kinh tế của các gia đình học sinh cũng rất đa dạng.

Năm học 2014-2015, trường có 1221 học sinh chia thành 34 lớp và có 93 cán bộ, giáo viên và công nhân viên, trong đó bao gồm 1 hiệu trường và 2 hiệu phó. Trong năm học này, trường cũng tiếp nhận 22 học sinh khuyết tật học hòa nhập.

Rào cản về sự tham gia và học tập của mỗi học sinh là khác nhau. Nhìn chung, trẻ có hoàn cảnh khó khăn khác nhau nên cũng cần sự trợ giúp khác nhau cho việc tới trường của trẻ.

Khuyết tật là một trong những rào cản cá nhân chính của trẻ. Có những học sinh khiếm thính gặp khó khăn trong giao tiếp với giáo viên và bạn bè đồng trang lứa vì không hiểu ngôn ngữ kí hiệu. Trẻ có thể trở nên tức giận khi không thể bộc lộ ý kiến và chia sẻ thông tin với người khác. Khiếm khuyết có thể cản trở các học sinh trong việc học và chơi với bạn bè. Ngoài ra, cũng có những học sinh khuyết tật vận động gặp khó khăn trong việc di chuyển và sử dụng các phương tiện giao thông. Có thể là quãng đường từ nhà tới trường quá xa, trẻ khuyết tật vận động không thể tự đi đến trường và trong gia đình cũng có người có thể đưa trẻ đi học. Học sinh khuyết tật trí tuệ thì lại không thể theo kịp chương trình học tập.

Một rào cản khác tới việc học và phát triển của học sinh trong tình huống cụ thể này là trẻ lớn lên trong gia đình chỉ có bố hoặc mẹ, hoặc thậm chí trẻ chỉ sống với ông bà hoặc họ hàng mà không sống với bố mẹ. Những trẻ như vậy thường giữ những câu chuyện cá nhân riêng và dường như là thiếu tự tin để bộc lộ những điểm mạnh của mình. Phụ huynh học sinh của trường cũng có những điều kiện kinh tế khác nhau. Một vài gia đình gặp khó khăn trong việc chi trả cho việc học của con em mình. Họ thiếu cả tài chính lẫn thời gian để quan tâm đến con em mình.

Những tiếp cận và chính sách để duy trì hiệu quả giáo dục hòa nhập

Vận hành phòng hỗ trợ

Từ năm 2004, nhà trường xây dựng Phòng hỗ trợ GDHN với sự hỗ trợ của Ủy ban nhân dân quận 10, Phòng GD&ĐT, các nhà tài trợ và các đơn vị trường học khác. Phòng này là một phòng chức năng của nhà trường nhằm đảm bảo hỗ trợ học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt một cách toàn diện để giúp các em phát triển khả năng và tiềm năng trong học tập, tham gia và hòa nhập xã hội để trở thành những thành viên hữu ích của xã hội.

Phòng hỗ trợ được trang bị các thiết bị cần thiết và có giáo viên chuyên trách để hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn về tâm lý, những kĩ năng đặc thù, và kĩ năng sống kịp thời trong quá trình GDHN.

Thích ứng chương trình và nội dung

Tất cả học sinh đều học chung chương trình giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, giáo viên thực hiện những điều chỉnh và thích ứng chương trình phù hợp với khả năng và nhu cầu giáo dục đặc biệt của học sinh.

Với mỗi học sinh khuyết tật, có một bản kế hoạch giáo dục cá nhân. Bản kế hoạch này được xây dựng với sự hợp tác của quản lý nhà trường, giáo viên, các chuyên gia đến từ trung tâm hỗ trợ phát triển GDHN của Sở GD&ĐT. Mỗi một học sinh có mục tiêu giáo dục được thiết kế dựa trên khả năng của từng trẻ. Sự đánh giá cũng dựa trên sự tiến bộ của học sinh.

Giáo viên cũng phát triển kĩ năng đặc thù cho các học sinh với các dạng tật khác nhau. Mặc dù còn có những hạn chế nhưng học sinh khuyết tật đã đạt được những kiến thức và kĩ năng phù hợp. Ví dụ, học sinh khiếm thính có thể sử dụng ngôn ngữ kí hiệu cơ bản, học sinh ADHD có những hành vi phù hơp tại trường lớp,...

Tổ chức các hoạt động nhà trường hướng tới môi trường hòa nhập thân thiện

Có nhiều hoạt động của nhà trường liên quan đến GDHN. Giáo viên đã thiết lập “Vòng bạn bè”. Tất cả các học sinh đều có cơ hội giúp đỡ bạn có nhu cầu giáo dục đặc biệt. Tất cả các học sinh đều được hưởng lợi từ hoạt động này, trẻ trở nên đoàn kết và nhân ái hơn. Trẻ biết cách quan tâm đến người khác và giúp đỡ lẫn nhau.

Đội thiếu niên tiền phong cũng tổ chức nhiều hoạt động như thể thao, văn nghệ để khuyến khích sự tham gia của tất cả học sinh như hoạt động vẽ tranh về GDHN, hát đồng ca giữa các học sinh khuyết tật và không khuyết tật,...

Kể từ năm học 2010-2011, Ủy ban nhân dân TP HCM ban hành Quyết định số 69/2011/QD-UBND về hỗ trợ tài chính cho giáo viên trực tiếp dạy học trẻ em và người khuyết tật. Đây được coi là một sự khuyến khích động viên tới những nỗ lực và nhiệt tình của giáo viên.

Hàng năm, cán bộ quản lý và giáo viên nhà trường tham gia các khóa bồi dưỡng về nghiệp vụ chuyên môn và GDHN. Chất lượng dạy và học tiếp tục được nâng cao.

Nhà trường cũng tiếp tục huy động xã hội hóa liên quan đến GDHN. Bằng hình thức này, tất cả mọi học sinh đều có cơ hội tiếp cận giáo dục có chất lượng.
 
Anh là một bé trai bị khiếm thính bẩm sinh. Anh rất lanh lợi và có rất nhiều bạn, em rất thích vẽ. Trong tấm ảnh trên, em đang cầm một hộp bút chì màu mới thậm chí đang trong giờ ra chơi với các bạn cùng lớp. Đây là một món quà từ bố mẹ của em. Trong tấm ảnh dưới, Anh và các bạn đang đứng ngoài phòng chức năng và xem một tiết mục văn nghệ. Thầy giáo và các bạn học sinh đang luyện tập văn nghệ để chuẩn bị cho một hoạt động của nhà trường.

Anh là một bé trai rất vui vẻ. Em luôn chủ động giao tiếp không chỉ bằng ngôn ngữ kí hiệu mà còn cả bằng lời nói. Giáo viên và các em học sinh khác cũng cố nói chậm và rõ ràng để Anh có thể nghe và hiểu. Hiểu được sở thích về vẽ của em, giáo viên và phụ huynh rất khuyến khích em học vẽ và tham gia các cuộc thi vẽ. Với các hoạt động học tập, giáo viên và các bạn cùng lớp luôn giải thích ý nghĩa của từ vựng cho Anh một cách cẩn thận và hướng dẫn Anh nói từ đó một cách chính xác.


Qua những minh chứng về hai trường tiểu học hòa nhập có hiệu quả có thể nhận thấy một vài yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công về GDHN ở cả hai trường bao gồm vai trò của các trung tâm và phòng hỗ trợ GDHN, sự hình thành môi trường học tập thân thiện, sự xây dựng và thực hiện Kế hoạch giáo dục cá nhân, sự đánh giá theo sự tiến bộ và khả năng của học sinh, sự phối hợp giữa các lực lượng có liên quan.

3. Kết luận

GDHN là xu thế tất yếu của thời đại. Qua hơn 2 thập kỉ, Bộ GD&ĐT triển khai thực hiện GDHN trên toàn quốc, phương thức giáo dục này đã khẳng định được tính hiệu quả và khả thi trong thực tiễn giáo dục trẻ khuyết tật và trẻ có hoàn cảnh khó khăn. Cụ thể, mô hình GDHN đã đảm bảo thực hiện 4 trụ cột giáo dục của UNESCO: học để biết, học để làm, học để tự khẳng định và học để cùng chung sống; đã thay đổi nhận thức của xã hội về quyền và khả năng của người khuyết tật; đã đáp ứng được nhu cầu đi học ngày càng tăng của trẻ khuyết tật và trẻ có hoàn cảnh khó khăn; và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta.
 
Tài liệu tham khảo

Le, V. T., Pham, M. M., & Nguyen, D. M. (2006). Education for children with disabilities in Vietnam – Several theoretical and practical issues. Hanoi: Education Publishing House.

Le, V. T. (2008). Developing the model of support centre for inclusive education development. Ministerial project B2006-37-22. MOET.
The Vietnam Government Office. (2012). Education Strategic Development Plan 2011 – 2020. Decision No 711/QD-TTg issued on 13/06/2012.

UNESCO. (1994). The Salamanca statement and framework for action on special needs education. Spain: UNESCO & Ministry of Education and Science.

UNESCO. (2004). Embracing diversity: Toolkit for creating inclusive, learning-friendly environments. Bangkok: UNESCO Bangkok.
VNIES. (2010). Research paper: Education Strategic Development Plan for children with disadvantages in Vietnam. Unpublished.

[1] TS. Vương Hồng Tâm, ThS. Nguyễn Thị Kim Hoa, PGS.TS. Lê Văn Tạc, TS. Bùi Thế Hợp, ThS. Lê Thị Tâm, ThS. Trần Thu Giang
 

 
Tin bài khác