Sách - Ấn phẩm
Giáo dục đặc biệt tại Việt Nam: Một số vấn đề còn tồn tại và giải pháp
03/10/2016 09:49
ThS. Hoàng Thị Nga
Khoa GDĐB,  trường ĐHSP TP.Hồ Chí Minh
 
Tóm tắt: Tại Việt Nam hiện nay, ngành giáo dục đặc biệt đã có những thành tựu đáng kể, số lượng và chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật từng bước nâng cao. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại những điểm hạn chế cần được sớm giải quyết như: chưa thống nhất về số liệu trẻ khuyết tật, Luật người khuyết tật còn một vài điểm bất cập, việc thực thi luật còn thiếu đồng bộ, công tác đào tạo nguồn nhân lực thực hiện còn hạn chế. Nhằm khắc phục những hạn chế đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp cụ thể, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật trong những năm tiếp theo.

1. Đặt vấn đề

Ngành giáo dục đặc biệt Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây đã đạt được những thành tựu đáng kể. Gần đây nhất, tác giả Nguyễn Đức Hữu - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học- đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế lần thứ hai dưới sự phối hợp thực hiện của Trường Đại học Wakayama và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Bài viết đã cung cấp cho người đọc những thông tin cơ bản, đầy đủ và toàn diện về thực trạng giáo dục trẻ khuyết tật (GDTKT) ở Việt Nam và những định hướng phát triển trong giai đoạn từ 2015 đến 2020. Trong đó, có thể thấy những thành tựu nổi bật như: quy mô giáo dục ngày càng được mở rộng, hệ thống văn bản pháp lí nền tảng đã được ban hành, công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho giáo dục đặc biệt tiếp tục được duy trì và phát triển, công tác quản lí giáo dục trẻ khuyết tật ngày càng hiệu quả và công tác xã hội hóa giáo dục cũng đã có nhiều kết quả, đã xác định được phương thức GDHN là phương thức giáo dục chủ yếu đối với người khuyết tật. Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra nhiều thách thức cho cho giáo dục đặc biệt ở Việt Nam như: nhận thức của xã hội về trẻ khuyết tật và tầm quan trọng của GDTKT chưa cao, hệ thống dịch vụ hỗ trợ chuyên môn còn yếu, chất lượng giáo dục còn nhiều hạn chế, đội ngũ làm việc trong các cơ sở giáo dục người khuyết tật và trung tâm hỗ trợ phát triển GDHN còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo về GDTKT còn thấp...

Bài viết này sẽ tập trung phân tích một số những thách thức nổi bật của công tác GDTKT. Trong đó, có những thách thức đã được nêu trong báo cáo của tác giả Nguyễn Đức Hữu và một số vấn đề khác từ chính góc nhìn của tác giả bài viết này. Từ đó, đưa ra một số biện pháp thúc đẩy giáo dục đặc biệt trong thời gian tới.

2.  Những thách thức cần giải quyết của GDTKT Việt Nam

2.1. Chưa có số liệu chính xác về số lượng người khuyết tật và trẻ khuyết tật trong độ tuổi


Giáo dục trẻ khuyết tật ở Việt Nam hiện nay chưa có được chương trình hành động mang tính chiến lược tổng thể và những giải pháp cụ thể, một trong những nguyên nhân chính là chưa có số liệu chính xác về số lượng người khuyết tật và số lượng trẻ khuyết tật trong độ tuổi từ 0 – 18 tuổi. Các thống kê của ngành Lao động thương binh và xã hội và ngành giáo dục có sự khác biệt nhau do tiêu chí xác định dạng khuyết tật, độ tuổi…

Theo số liệu của TS Nguyễn Quốc Anh -  Giám đốc Trung tâm Thông tin và Tư liệu Dân số năm 2010, ước tính ở Việt Nam có khoảng 5,1 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 6% dân số, trong đó có 1,1 triệu khuyết tật nặng, chiếm 21,5% tổng số người khuyết tật. Tỷ lệ các dạng khuyết tật ước tính là: khuyết tật vận động – 29%, khuyết tật tâm thần - 17%, khuyết tật thị giác - 14%, khuyết tật thính giác - 9%, khuyết tật ngôn ngữ - 7%, khuyết tật trí tuệ - 7% và 17% các dạng tật khác. Ước tính này so với thực tế còn nhiều mâu thuẫn. Chẳng hạn, theo thống kê của Phòng Kế hoạch Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TP.HCM năm 2010, toàn thành phố có 42.324 người khuyết tật trong khi nếu tính theo tỷ lệ bình quân 6% người khuyết tật trên tổng dân số thì con số này phải cao hơn rất nhiều. Theo đó, nếu dân số TPHCM là 7.382.287 người (theo số liệu điều tra của tổng cục thống kê ngày 1/4/2010), toàn thành phố vào thời điểm đó phải có khoảng 442.937 người khuyết tật. Điều này cho thấy số liệu trẻ khuyết tật tại TP.HCM theo thống kê của Sở Lao động Thương Binh và Xã Hội TP.HCM còn khác biệt rất nhiều so với thực tế.

Ngược lại, nếu chỉ dựa trên số liệu ước tính thì cũng có thể sẽ đưa ra các chương trình hành động sai. Chẳng hạn, theo tỷ lệ ước tính của TS. Nguyễn Quốc Anh thì số lượng người mắc khuyết tật thị giác cao hơn rất nhiều so với các dạng khuyết tật khác. Và mặc dù, đây chỉ là tỷ lệ người khuyết tật theo các dạng tật chứ không phải theo độ tuổi, người ta vẫn suy ra rằng tỷ lệ trẻ khiếm thị nhiều hơn trẻ mắc các dạng khuyết tật khác, trong khi thực tế thì hoàn toàn ngược lại, các trường và chương trình giáo dục trẻ khiếm thị càng ngày càng giảm và các trường giáo dục chuyên biệt dành cho các dạng khuyết tật khác đặc biệt là trẻ khuyết tật trí tuệ và khuyết tật phát triển ngày càng tăng lên nhanh chóng.

Việc thiếu tin cậy trong thống kê số liệu người khuyết tật nói chung và số liệu trẻ khuyết tật trong độ tuổi đi học nói riêng đã ảnh hưởng rất lớn đến việc hoạch định các chính sách giáo dục cho trẻ khuyết tật nói riêng và người khuyết tật nói chung. Tất cả các hoạt động liên quan đến giáo dục trẻ khuyết tật đều có quan hệ mật thiết với việc xác định đúng số lượng trẻ khuyết tật, loại và mức độ khuyết tật của trẻ khuyết tật trong độ tuổi ở mỗi địa phương và trong cả nước. Con số này sẽ giúp ngành giáo dục và các ban ngành liên quan xác định được các loại hình và số lượng dịch vụ cần thiết cho người khuyết tật. Từ đó, hoạch định nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và tổ chức quản lý nhằm từng bước đáp ứng nhu cầu giáo dục đặc biệt của trẻ khuyết tật.

2.2. Luật người khuyết tật năm 2010 vẫn còn vài điểm chưa hợp lí

Luật người khuyết tật ra đời năm 2010 khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với người khuyết tật và khẳng định chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về người khuyết tật là rất tiến bộ. Đây là cơ sở quan trọng để người khuyết tật được hưởng các quyền lợi và thực hiện trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, Luật người khuyết tật ở một vài điểm vẫn chưa được quy định và trình bày rõ ràng, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các chế độ hỗ trợ, trong đó có các chương trình hành động liên quan đến giáo dục.
           
Chẳng hạn, điều 3 - khoản 1 của Luật có quy định về dạng khuyết tật bao gồm 6 dạng: (a) Khuyết tật vận động; (b) Khuyết tật nghe, nói; (c) Khuyết tật nhìn; (d) Khuyết tật thần kinh, tâm thần; (đ) Khuyết tật trí tuệ; (e) Khuyết tật khác nhưng ở khoản 3, điều 50 quy định về trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp, Luật chỉ nhấn mạnh việc thống nhất về ngôn ngữ kí hiệu và chữ nổi Braille cho người khuyết tật nghe, nói và nhìn mà không làm rõ các dạng khuyết tật còn lại thì phương tiện hỗ trợ học tập như thế nào. Chẳng hạn, đối với khuyết tật vận động, việc phục hồi chức năng, vật lí trị liệu và sử dụng các thiết bị hỗ trợ vận động là hết sức cần thiết nhưng những quy định cụ thể và đặc thù cho loại khuyết tật này vẫn chưa được làm rõ, trong khi, theo rất nhiều nguồn thống kê khác nhau, tỷ lệ người khuyết tật vận động luôn chiếm tỷ lệ cao trong các dạng khuyết tật ở Việt Nam.

2.3. Việc thực thi Luật người khuyết tật còn chậm, thiếu đồng bộ và còn nhiều bất cập

Mặc dù Luật người khuyết tật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011, nhưng tốc độ thực thi rất chậm. Một số điều khoản quan trọng được người khuyết tật, gia đình người khuyết tật và xã hội đặc biệt quan tâm thì hầu như vẫn chưa được thực hiện một cách hệ thống và đồng bộ.

Chẳng hạn, điều 28, khoản 2 quy định rõ GDHN là phương thức giáo dục chủ yếu đối với người khuyết tật. Điều 29, khoản 1 cũng nêu rõ - Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tham gia giáo dục người khuyết tật, nhân viên hỗ trợ giáo dục người khuyết tật được đào tạo, bồi dưỡng cập nhật về chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng đáp ứng nhu cầu giáo dục người khuyết tật. Và điều 30 cũng nêu rõ về trách nhiệm của cơ sở giáo dục người khuyết tật bao gồm: (1) - Bảo đảm các điều kiện dạy và học phù hợp đối với người khuyết tật, không được từ chối tiếp nhận người khuyết tật nhập học trái với quy định của pháp luật và (2) Thực hiện việc cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất dạy và học chưa bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật nhưng tình hình thực tế lại không diễn ra như vậy.
Theo kết quả khảo sát năm 2011 của Nguyễn Thị Tường Vân trên 38 trường mầm non hòa nhập tại 9 quận/huyện của TP.HCM – địa phương được đánh giá là đang thực hiện tốt nhất công tác giáo dục trẻ khuyết tật so với cả nước thì hiện trạng giáo dục trẻ khuyết tật theo phương thức GDHN còn nhiều hạn chế. Có 6.8% giáo viên dạy hòa nhập ở bậc mầm non được đào tạo về giáo dục đặc biệt và 35.1% giáo viên đang dạy hòa nhập ở bậc mầm non được tham gia các lớp bồi dưỡng về GDHN ở các mức độ khác nhau từ 3-5 ngày. Có tới 51.9% giáo viên mầm non chưa được bồi dưỡng về GDHN nhưng đang tham gia dạy trẻ khuyết tật học hòa nhập. Số cán bộ quản lí được đào tạo/bồi dưỡng về giáo dục đặc biệt cũng rất ít, chỉ có 7.9% (3 người) có trình độ cử nhân giáo dục đặc biệt. Với thực tế như vậy thì có thể chưa đủ để đảm bảo các điều kiện để thực hiện GDHN cho học sinh khuyết tật như trong Luật quy định. Ở các trường chuyên biệt, số giáo viên đã qua đào tạo/bồi dưỡng chuyên ngành GDĐB đạt 67.73%, trong đó trình độ chuyên môn chủ yếu là cao đẳng GDĐB (65.9%) và 34.1% trình độ đại học.

Một thực tế cũng khá bất cập đó là việc thiếu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ đối với giáo viên dạy trẻ khuyết tật. Hiện tại, các trường chuyên biệt vẫn phải áp dụng chuẩn giáo viên mầm non và phổ thông trong đánh giá năng lực giáo viên khuyết tật. Đây là một thực tế bất hợp lí, đi ngược lại với điều 50, khoản 1, mục đ của Luật người khuyết tật nêu rõ về “Quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, nhân viên chăm sóc người khuyết tật trong cơ sở chăm sóc người khuyết tật”

2.4. Công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực cho GDTKT còn nhiều bất cập

Hiện nay, đang có rất nhiều bất cập trong công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực GDTKT. Tại TP.HCM, địa phương được đánh giá là đơn vị đi đầu trong cả nước về chăm sóc và GDTKT, công tác này hiện cũng đang có nhiều vướng mắc. Bằng chứng là trong khi các nhà quản lí giáo dục kêu thiếu về nguồn nhân lực thực hiện GDHN thì sinh viên tốt nghiệp sư phạm giáo dục đặc biệt vẫn không thể tìm được một vị trí việc làm ở các trường mầm non và tiểu học công lập nơi có trẻ khuyết tật đang học hòa nhập. Mâu thuẫn này một phần do phần lớn sinh viên không có hộ khẩu thành phố nhưng nguyên nhân chính là do các trường công lập còn thiếu biên chế và vị trí việc làm cho giáo viên giáo dục đặc biệt. Ngoài ra, theo các nhà quản lí, còn có một nguyên nhân khác, đó là giáo viên giáo dục đặc biệt thiếu kiến thức và kỹ năng giáo dục nền tảng gắn với một bậc học nhất định. Chẳng hạn như, không thể dạy trẻ mầm non vì thiếu kiến thức và kỹ năng chuyên sâu về giáo dục mầm non hay tương tự đối với các bậc học khác.

Ngoài ra, trong khi các trường không thể tuyển được giáo viên giáo dục đặc biệt thì tỷ lệ giáo viên đứng lớp dạy trẻ khuyết tật hòa nhập được bồi dưỡng và đào tạo về giáo dục đặc biệt nhìn chung còn rất thấp, đáng phải suy ngẫm như đã được nêu ra trong phần 2.3.

Những bất hợp lí này nếu không được khắc phục sớm sẽ là rào cản lớn cho việc triển khai thực hiện GDHN hiện nay nói riêng và việc đạt được các mục tiêu về giáo dục đặc biệt nói chung.

3. Một số đề xuất nhằm tháo gỡ thực trạng hiện nay

3.1. Cung cấp số liệu chính xác về người khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật trong độ tuổi nói riêng


Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội nên là đơn vị chủ trì trong việc điều tra tổng thể về người khuyết tật để có số liệu chính xác về người khuyết tật bao gồm: tổng số người khuyết tật và trẻ khuyết tật từ 0 - 18 tuổi trên phạm vi cả nước, tỷ lệ dạng khuyết tật, mức độ khuyết tật... Trên cơ sở số liệu này, lập kế hoạch chiến lược trong vòng từ 5- 10 năm và kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn, trong đó, xác định các nguồn lực cần huy động và nhiệm vụ của các ngành, đơn vị liên quan. Kế hoạch này cần có sự tham gia của các ngành và cơ quan chức năng liên quan như Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế. Từ đó, có thể ước tính được tổng chi phí cần cho việc thực hiện. Sau đó, căn cứ trên tổng kinh phí được duyệt chi, mà chọn các lĩnh vực, chương trình hành động ần ưu tiên thực hiện trước. Có như thế mới đảm bảo việc quy hoạch toàn diện cho GDTKT, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, chồng chéo, kém hiệu quả, trong khi kinh phí chỉ có hạn.

3.2. Bổ sung, điều chỉnh Luật người khuyết tật

Khi thích hợp, Luật người khuyết tật nên được bổ sung chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam và quốc tế. Việc định danh thêm một số loại khuyết tật trong Luật có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thống kê số liệu về người khuyết tật, các chế độ chính sách hỗ trợ và quan trọng hơn hết là việc đạt quyền được hưởng giáo dục đặc biệt của tất cả những người khuyết tật. Hiện nay, khuyết tật học tập, trẻ rối loạn phổ tự kỉ, mù – điếc và đa tật là những dạng khuyết tật được xác định là có những đặc điểm riêng biệt cần đến những chương trình và các dịch vụ giáo dục đặc thù. Vì thế, việc định danh những dạng khuyết tật này trong luật sẽ là nền tảng cho những chương trình giáo dục tương ứng có chất lượng. Hiện nay, đạo luật khuyết tật ở Mỹ đã dịnh danh 13 loại khuyết tật cụ thể. Đây là một nguồn để tham khảo cho việc bổ sung, điều chỉnh của Luật người khuyết tật Việt Nam.

3.3. Tăng cường các biện pháp nhằm thúc đẩy GDHN cho trẻ khuyết tật

Bộ GD&ĐT cần có các chỉ thị cụ thể, toàn diện và kịp thời về quy trình thực hiện GDHN, đặc biệt nên sớm nghiên cứu ban hành chuẩn nghề nghiệp giáo viên giáo dục đặc biệt, có quy định rõ ràng về vị trí việc làm của giáo viên giáo dục đặc biệt, sớm kiện toàn bộ máy quản lí giáo dục đặc biệt, sớm quy định về việc đưa học phần GDHN vào chương trình đào tạo của tất cả các ngành sư phạm của các trường sư phạm trong cả nước, đào tạo giáo viên GDHN theo bậc học và chuẩn bị các điều kiện thiết yếu khác cho các Trường hòa nhập và Trung tâm hỗ trợ phát triển GDHN.

Tài liệu tham khảo

Nguyễn Quốc Anh (2013), thực trạng người khuyết tật và kết quả thực hiện chăm sóc người khuyết tật,

Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương (6/2010), Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, NXB Thống kê Hà Nội,

Nguyễn Thị Tường Vân (2013), Công tác quản lí đội ngũ giáo viên mầm non dạy trẻ khuyết tật hòa nhập tại Thành phố Hồ Chí Minh, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: Giáo dục đặc biệt – Hướng tới tương lai, NXB trường ĐHSP TP.HCM, trang 76-89

Luật người khuyết tật (2010), Quốc hội Số: 51/2010/QH12.

http://idea.ed.gov/explore/view/p/,root,regs,300,A,300%252E8,c, 
 
Tin bài khác